MỞ ĐẦU Tỉnh Hà Nam cách Thủ đô Hà Nội hơn 50 km và là cửa ngõ phía Nam của Thủ đô Hà Nội. Phía Bắc tỉnh Hà Nam giáp với thành phố Hà Nội, phía Đông giáp với Hưng Yên và Thái Bình, phía Nam giáp tỉnh Nam Định và Ninh Bình, phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình. Tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng cùng hệ thống giao thông thủy, bộ, sắt tạo cho Hà Nam lợi thế rất lớn trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - kỹ thuật với các tỉnh trong vùng và cả nước, đặc biệt là với thủ đô Hà Nội và các tỉnh/thành phố nằm trong vùng trọng điểm phát triển kinh tế đồng bằng Bắc Bộ. Với những ưu thế đó trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh tương đối cao và việc phát triển công nghiệp được ưu tiên nhằm duy trì tốc độ phát triển kinh tế này.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã thành lập nhiều các khu công nghiệp (KCN) đã và đang đi vào hoạt động. Mỗi KCN đều thu hút đông đảo các doanh nghiệp trong và ngoài nước vào đầu tư góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động địa phương, tạo điều kiện phát triển công nghiệp theo quy hoạch tổng thể, tạo điều kiện cho việc xử lý chất thải công nghiệp tập trung,… Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mang lại, quá trình phát triển công nghiệp đang phải đối mặt với nhiều vấn đề lớn về ô nhiễm môi trường như khí thải, nước thải, chất thải rắn do sự hoạt động từ các doanh nghiệp trong KCN. Những vấn đề này cần phải được quan tâm, giải quyết hợp lý, nếu không sẽ gây ra các ảnh hưởng lớn đến môi trường và sức khỏe cộng đồng. Do đó, việc xây dựng một hệ thống quản lý môi trường (QLMT) phù hợp trong các KCN luôn được chú trọng trong việc phát triển KCN.
Qua quá trình tìm hiểu, khảo sát tác giả nhận thấy: hệ thống QLMT tại một số KCN của tỉnh Hà Nam vẫn còn một số bất cập, lỏng lẻo đặc biệt tại các KCN đã được thành lập cách đây khoảng trên 15 năm. Công tác quản lý môi trường chưa tốt tại các KCN sẽ làm phát thải các chất gây ô nhiễm ra ngoài môi trường như: khí thải, nước thải, chất thải rắn,… dẫn đến chất lượng môi trường tại KCN, xung quanh KCN bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến môi trường sống của khu dân cư xung 1 z quanh. Do đó, vấn đề quản lý môi trường tại KCN cần được cơ quan nhà nước lưu tâm khi thành lập các KCN mới sau này trên địa bàn tỉnh để tránh các vấn đề ô nhiễm môi trường phát sinh gây ảnh hưởng môi trường sống xung quanh. Hòa theo sự phát triển của tỉnh, huyện Duy Tiên được xem là huyện có tốc độ phát triển kinh tế khá cao, góp phần lớn vào sự phát triển công nghiệp của tỉnh.
Hiện nay, trên địa bàn huyện có tập trung nhiều KCN như KCN Đồng Văn I, KCN Đồng Văn II, KCN Hòa Mạc và 01 KCN đang trong quá trình đầu tư xây dựng. Với sự tập trung nhiều các KCN trên địa bàn huyện, thì sức ép của phát triển công nghiệp đến môi trường khu vực là rất cần coi trọng. KCN Đồng Văn I, KCN Đồn Văn II đều là các KCN được thành lập sớm tại tỉnh Hà Nam. Sự xuất hiện của các KCN này đã góp phần làm thúc đẩy phát triển kinh cho tỉnh Hà Nam và làm gia tăng nguồn ngân sách của tỉnh.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn mà các KCN này đã mang lại cho địa phương, thì địa phương đang phải đối mặt với các vấn đề về ô nhiễm môi trường xung quanh các KCN. Hiện nay, công tác quản lý môi trường tại các KCN đã được cơ quan nhà nước chú trọng, tuy nhiên công tác QLMT vẫn còn lỏng lẻo, gặp nhiều bất cập do đó các vấn đề về môi trường chưa được kiểm soát triệt để. Trong các KCN được thành lập tại huyện Duy Tiên, KCN Hòa Mạc được xem là KCN được thành lập muộn nhất trong các KCN đang hoạt động. KCN Hòa Mạc là KCN tập trung nhiều ngành công nghiệp chính của tỉnh góp phần làm gia tăng nguồn ngân sách của tỉnh.
KCN Hòa Mạc nằm tại thị trấn Hòa Mạc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam và nằm gần các Quốc lộ 38, Quốc lộ 1A và Quốc lộ 1B, do đó các vấn đề về môi trường cần phải được quan tâm, chú trọng nhiều hơn. Để giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường do quá trình hoạt động của KCN Hòa Mạc và để KCN Hòa Mạc phát triển bền vững, việc nghiên cứu hiện trạng môi trường và đề xuất các biện pháp QLMT nhằm giảm thiểu các tác động tới môi trường và con người là việc cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn. Trên cơ sở nghiên cứu và rút ra những kinh nghiệm trong công tác QLMT từ các KCN đã thành lập trước đó, công tác QLMT tại KCN Hòa Mạc hoàn chỉnh hơn và nâng cao hơn so với các KCN đã 2 z được thành lập trước. Vì vậy, học viên lựa chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý môi trường khu công nghiệp Hòa Mạc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam” để làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn đánh giá được hiện trạng chất lượng các thành phần môi trường tại KCN Hòa Mạc, đánh giá công tác QLMT của KCN và đề xuất các biện pháp QLMT hiệu quả nhằm giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực tới môi trường trong quá trình hoạt động của KCN, hướng KCN Hòa Mạc trở thành một KCN phát triển bền vững và công tác QLMT tại KCN Hòa Mạc sẽ trở thành hình mẫu để các KCN thành lập sau này học tập theo.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về KCN 1. Định nghĩa KCN Theo Khoản 11, Điều 3 của Luật đầu tư năm 2014: “Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp”. Đặc điểm của KCN: - Về không gian: là khu vực có ranh giới địa lý xác định, phân biệt với các vùng lãnh thổ khác và thường không có cư dân sinh sống.
Các KCN đều được xác định ranh giới cụ thể bằng hệ thống hàng rào KCN. Mọi hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh bên trong hàng rào đó, không chỉ được điều chỉnh bởi quy định của pháp luật hiện hành mà còn phải tuân thủ quy chế pháp lý riêng và được hưởng rất nhiều ưu đãi. Toàn bộ hạ tầng kỹ thuật KCN này được xây dựng phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp và kinh doanh dịch vụ phục vụ công nghiệp, không phục vụ mục đích sống dân cư, kể cả người Việt Nam, người nước ngoài làm việc trong KCN. - Về chức năng hoạt động: KCN là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp.
Lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp trong KCN là sản xuất công nghiệp và dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Trong KCN, không có các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các dịch vụ phục vụ cho loại hình sản xuất này. - Về thành lập: KCN không phải là khu vực được thành lập tự phát mà được thành lập theo quy định của Chính phủ, trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt. Để phát triển các KCN, Nhà nước phải thiết lập môi trường đầu tư thuận lợi, bao gồm hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hệ thống cơ chế chính sách toàn diện, đồng bộ.
Chính vì vậy, Nhà nước phải xây dựng quy hoạch phát triển các KCN, thẩm định kỹ trước khi thành lập và triển khai xây dựng. - Về đầu tư cho sản xuất: Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong KCN, có khu vực hoặc doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa xuất khẩu (được gọi 4 z là khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất). Phụ thuộc vào quy hoạch tổng thể phát triển KCN đã được phê duyệt và dự án đầu tư, kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN, trong phạm vi KCN có thể thành lập khu vực riêng bao gồm: các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và các dịch vụ thu ngoại tệ hoặc cũng có thể chỉ thành lập doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu (doanh nghiệp chế xuất). Hệ thống KCN ở nước ta hiện nay Sau gần 20 năm xây dựng và phát triển, các KCN ở Việt Nam đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giải quyết việc làm cho nhiều lao động và đẩy nhanh công tác xóa đói giảm nghèo tại các địa phương.
Theo báo cáo của Vụ Quản lý các khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết tháng 9 năm 2016, cả nước có 324 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 91,8 nghìn ha [11]. Đối với các KCN, diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 61,7 nghìn ha, chiếm khoảng 67% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó, 220 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 59,6 nghìn ha và 104 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên 29,7 nghìn ha. Tổng diện tích đất công nghiệp đã cho thuê của các KCN đạt 31,8 nghìn ha, tỷ lệ lấp đầy các KCN đạt 50%, riêng các KCN đã đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy đạt 73%. Trong số 324 KCN được thành lập có 44 KCN đầu tư nước ngoài và 280 KCN đầu tư trong nước [11].
Các KCN được thành lập phù hợp với quy hoạch phát triển các KCN cả nước cũng như quy hoạch sử dụng đất và phát triển công nghiệp của địa phương. Về phân bố KCN, vùng Đông Nam Bộ có số lượng KCN được thành lập nhiều nhất với 109 KCN (chiếm 34% cả nước), tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng với 83 KCN (chiếm 26% cả nước) và vùng Tây Nam Bộ với 52 KCN (chiếm 16% cả nước) [11]. Các vấn đề môi trường nổi cộm ở KCN Trong những năm qua, các KCN đã có những đóng góp vào sự nghiệp phát 5 z triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, sự phát triển của KCN cũng đã có tác động không nhỏ đến môi trường.