Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 9229002) với đề tài "Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Vũ Kim Điềm thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Nguyễn Thị Lan Hương (Hà Nội, 2021).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường, Việt Nam đạt được mức tăng trưởng kinh tế và phát triển kết cấu hạ tầng nhưng đồng thời phải đối mặt với nhiều hệ lụy môi trường: suy thoái tài nguyên thiên nhiên, suy giảm diện tích rừng tự nhiên, đe dọa đa dạng sinh học, gia tăng mức độ ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và tiếng ồn tại các đô thị và khu công nghiệp. Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, với dẫn chứng cụ thể là đợt hạn hán nghiêm trọng đầu năm 2016 tại khu vực Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long, cùng sự cố môi trường biển do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Formosa Hà Tĩnh gây ra tại Vũng Áng tác động đến 4 tỉnh miền Trung (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế).

Tác giả xác định bảo vệ môi trường là nghĩa vụ của toàn xã hội, trong đó Nhà nước là chủ thể giữ vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên và môi trường, nắm giữ quyền lực công để quản lý xã hội. Việc thực hiện trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường không diễn ra tự phát mà đòi hỏi nghiên cứu lý luận có hệ thống dưới góc độ triết học nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho thực tiễn quản lý và hoàn thiện chính sách.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường từ góc độ triết học; phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm này tại Việt Nam từ năm 1993 đến nay; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp định hướng nhằm nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trong thời gian tới.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến trách nhiệm bảo vệ môi trường của Nhà nước, chỉ ra các giá trị kế thừa và khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu.
    2. Làm rõ cơ sở lý luận về trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường, bao gồm tính tất yếu, nội dung cơ bản và các nhân tố tác động.
    3. Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường của Nhà nước ở Việt Nam từ năm 1993 đến nay, chỉ rõ thành tựu, hạn chế và nguyên nhân.
    4. Đề xuất các nhóm giải pháp cơ bản nhằm nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Góc độ tiếp cận: Triết học (Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử).
    • Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn từ năm 1993 (thời điểm Luật Bảo vệ môi trường đầu tiên của Việt Nam được Quốc hội thông qua) đến năm 2021.
    • Không gian nghiên cứu: Phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước theo 3 nhóm hướng nghiên cứu chính:

Hướng nghiên cứu Tác giả, công trình và năm công bố tiêu biểu Nội dung trọng tâm đã được công bố
Nghiên cứu lý luận về môi trường và trách nhiệm của Nhà nước Quốc tế: P. Marsh (1864), Jack Brestes (1968), R. Wagner (1971), E. Schumacher (1973), René Dumont, Bai Lifan, Alvin Toffler, Michael Atchia & Shawna Tropp (1995), Paul R. Stavins (2000), Robert W. Collin (2005), Daniel Chiras (2014).
Trong nước: Chu Văn An, Tuệ Tĩnh, Lê Quý Đôn, Hải Thượng Lãn Ông, Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Thị Ngọc Trầm, Lê Bá Thảo, Nguyễn Ngọc Sinh, Trần Trọng Hựu, Hồ Sĩ Quý, Phạm Xuân Nam, Nguyễn Thị Lan Hương.
Phân tích quan hệ con người - tự nhiên; cảnh báo suy thoái sinh thái do công nghiệp hóa; chức năng chính sách công của chính phủ; đạo đức môi trường; trách nhiệm môi trường của doanh nghiệp và quản lý nhà nước đối với tài nguyên môi trường dưới góc nhìn xã hội - nhân văn.
Nghiên cứu thực trạng trách nhiệm của Nhà nước tại Việt Nam Lưu Đức Hải (chủ biên), Hoàng Hữu Bình (chủ biên), Trần Thanh Lâm, Lê Thị Thanh Hà, Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương, Đỗ Thị Ngọc Lan, Nguyễn Minh Hằng, Đinh Diệu Linh, Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp (2002). Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường; phân tích hệ thống pháp luật, năng lực bộ máy quản lý môi trường từ trung ương đến địa phương; các tác động tiêu cực của ô nhiễm và biến đổi khí hậu; những bất cập về chế tài xử phạt vi phạm hành chính và dân sự.
Nghiên cứu giải pháp nâng cao trách nhiệm của Nhà nước Đặng Mộng Lân, Phạm Minh Hạc & Nguyễn Hữu Tăng (chủ biên), Trần Đắc Hiến, Nguyễn Danh Sơn, Chu Thái Thành, Nguyễn Văn Việt, Nguyễn Văn Ngừng, Hà Huy Thành & Lê Cao Đoàn, Trần Anh Phương, Nguyễn Văn Kim, Phạm Thị Oanh, Nguyễn Văn Phước & Nguyễn Thị Vân Hà. Đề xuất công cụ kinh tế trong quản lý môi trường; kiện toàn bộ máy cơ quan môi trường; hoàn thiện thể chế pháp luật; phát triển kinh tế xanh; xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường và tham khảo bài học kinh nghiệm xử lý ô nhiễm từ các quốc gia như Nhật Bản.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước phần lớn tiếp cận vấn đề môi trường dưới góc độ khoa học kỹ thuật, sinh thái học, kinh tế học môi trường, luật học chuyên ngành hoặc quản lý hành chính đơn thuần. Việc nghiên cứu trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường dưới lăng kính triết học chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử một cách hệ thống, từ bản chất chức năng xã hội của Nhà nước, mối quan hệ giữa tự nhiên - con người - xã hội, đến việc đánh giá thực trạng thể chế và giải pháp mang tính chỉnh thể ở Việt Nam, vẫn chưa được giải quyết tập trung trong một công trình chuyên khảo riêng biệt.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung khái niệm

  • Nền tảng lý luận triết học: Luận án vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về mối quan hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên (quy luật tự nhiên "trả thù" con người khi con người tác động phá vỡ cân bằng sinh thái); lý luận về nguồn gốc, bản chất giai cấp và chức năng xã hội của Nhà nước (chức năng xã hội là cơ sở duy trì sự thống trị chính trị); tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ thiên nhiên và môi trường sống.
  • Quan điểm chính trị - pháp lý: Các nghị quyết, chỉ thị, văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam (Chỉ thị số 36/CT-TW năm 1998, Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 2013, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, XII); Hiến pháp Việt Nam (năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001 và Hiến pháp năm 2013); các đạo luật chuyên ngành (Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, 2005, 2014).
  • Hệ thống khái niệm công cụ:
    • Trách nhiệm: Sự ràng buộc về bổn phận, nghĩa vụ pháp lý và đạo đức của chủ thể đối với hành vi và hậu quả do hành vi của mình gây ra trước xã hội.
    • Trách nhiệm của Nhà nước: Những công việc, nghĩa vụ mà Nhà nước phải đảm nhận để quản lý xã hội, duy trì trật tự công cộng, bảo vệ lợi ích của nhân dân bằng các công cụ quyền lực công và chính sách kinh tế - xã hội.
    • Bảo vệ môi trường: Toàn bộ hoạt động của các tổ chức, cá nhân nhằm giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu; ứng phó sự cố; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện và phục hồi môi trường; khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên.
    • Trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường: Bổn phận và nghĩa vụ của Nhà nước trong việc hoạch định chính sách, ban hành luật pháp, tổ chức bộ máy, điều tiết nguồn lực và giám sát thực thi nhằm kiểm soát ô nhiễm, bảo tồn thiên nhiên và bảo đảm phát triển bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án là công trình nghiên cứu lý luận triết học, sử dụng phương pháp tiếp cận định tính dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ các yếu tố cấu thành khái niệm trách nhiệm, trách nhiệm của Nhà nước và trách nhiệm bảo vệ môi trường; khái quát hóa các nhận định từ nguồn tài liệu thứ cấp.
  • Phương pháp lôgíc kết hợp lịch sử: Phân tích quá trình phát triển của nhận thức lý luận và thực tiễn ban hành chính sách, pháp luật môi trường tại Việt Nam theo các mốc thời gian từ năm 1993 đến năm 2021.
  • Phương pháp nghiên cứu văn bản, tư liệu: Thu thập, đối chiếu, phân tích các văn kiện đại hội Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết hội nghị môi trường toàn quốc (lần thứ nhất năm 1998 đến lần thứ tư năm 2015), và các số liệu thực tế được công bố chính thức.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 khái quát lịch sử nghiên cứu về môi trường và trách nhiệm của Nhà nước qua 4 nội dung:

  • Các công trình nghiên cứu lý luận: Điểm lại các tư tưởng sinh thái từ thế kỷ XIV-XVIII ở Việt Nam và các công trình quốc tế từ thế kỷ XIX (P. Marsh) đến thế kỷ XX-XXI (các nghiên cứu của UNEP, EPA, Daniel Chiras). Phân tích quan điểm của các học giả trong nước về sinh thái nhân văn, đạo đức môi trường và quản lý nhà nước đối với tài nguyên.
  • Các công trình nghiên cứu thực trạng: Tổng thuật các đánh giá về ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, biến đổi khí hậu tại Việt Nam; phân tích những bất cập trong bộ máy quản lý, việc thực thi chính sách và xử phạt hành chính từ sau khi Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 được ban hành.
  • Các công trình nghiên cứu giải pháp: Tổng kết các hướng giải pháp đã được đề xuất như áp dụng công cụ kinh tế, tái cấu trúc mô hình tăng trưởng xanh, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành và giáo dục nâng cao ý thức cộng đồng.
  • Giá trị tham khảo và vấn đề đặt ra: Khẳng định kết quả của các công trình trước là tiền đề lý luận và thực tiễn; xác định rõ sự cần thiết phải nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm của Nhà nước dưới góc độ triết học CNDVBC và CNDVLS.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận chung về trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường

Chương 2 luận giải nền tảng lý thuyết và bản chất triết học của đề tài:

  • Khái niệm trách nhiệm và trách nhiệm của Nhà nước: Luận giải nguồn gốc Nhà nước theo quan điểm Mác - Lênin. Trách nhiệm của Nhà nước bắt nguồn từ bản chất giai cấp và chức năng xã hội. Nhà nước nắm quyền lực do nhân dân ủy quyền, đại diện cho lợi ích chung, có trách nhiệm bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân.
  • Nội dung cơ bản của trách nhiệm Nhà nước trong bảo vệ môi trường:
    1. Xây dựng môi trường pháp lý đồng bộ, minh bạch, có tính răn đe để điều chỉnh hành vi của các chủ thể.
    2. Xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội, chính sách môi trường gắn với mục tiêu phát triển bền vững.
    3. Quản lý, điều hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với kiểm soát tác động môi trường.
    4. Cung cấp và đảm bảo các dịch vụ công về môi trường (xử lý chất thải, cấp nước sạch, kiểm trắc và dự báo môi trường).
    5. Thực hiện phân phối và điều tiết nguồn lực thông qua các công cụ tài chính, thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường và ngân sách nhà nước.
    6. Tuyên truyền, giáo dục, phổ biến ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường cho toàn xã hội.
    7. Đại diện quốc gia tham gia các điều ước, cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và môi trường.
  • Các nhân tố tác động: Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; thể chế chính trị và hệ thống pháp luật; nhận thức, đạo đức môi trường của cộng đồng; bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

Chương 3: Thực trạng thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 khảo sát thực tế việc thực hiện trách nhiệm của Nhà nước từ năm 1993 đến năm 2021:

  • Bối cảnh môi trường và trách nhiệm của hệ thống chính trị: Phân tích áp lực môi trường trong giai đoạn công nghiệp hóa; làm rõ quan điểm nhất quán của Đảng qua các kỳ Đại hội (đặc biệt là Đại hội XI, XII) coi bảo vệ môi trường là một trong ba trụ cột của phát triển bền vững cùng với kinh tế và xã hội.
  • Những thành tựu đạt được và nguyên nhân:
    • Thành tựu: Hệ thống pháp luật môi trường từng bước được bổ sung và hoàn thiện (từ Luật Bảo vệ môi trường 1993, 2005 đến 2014 với 12 hoạt động được khuyến khích và 16 hành vi bị nghiêm cấm); thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng hệ thống cơ quan quản lý chuyên trách từ trung ương đến địa phương; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra và xử lý sự cố môi trường; mở rộng hợp tác quốc tế.
    • Nguyên nhân thành tựu: Sự chỉ đạo của Đảng, nỗ lực đổi mới thể chế của Nhà nước và sự tham gia ngày càng tích cực của các tổ chức xã hội và nhân dân.
  • Những hạn chế và nguyên nhân:
    • Hạn chế: Tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, làng nghề, lưu vực sông vẫn diễn biến phức tạp; sự cố môi trường nghiêm trọng vẫn phát sinh (điển hình sự cố Formosa); công tác xử lý chất thải rắn và nước thải sinh hoạt đô thị chưa đáp ứng yêu cầu.
    • Nguyên nhân hạn chế: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn có điểm chồng chéo; bộ máy quản lý nhà nước về môi trường còn thiếu về số lượng và hạn chế về năng lực chuyên môn ở cấp cơ sở; mức xử phạt vi phạm chưa đủ sức răn đe; nguồn lực đầu tư tài chính từ ngân sách nhà nước còn phân tán; ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận doanh nghiệp và người dân chưa cao.

Chương 4: Một số nhóm giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ cấu tổ chức bộ máy: Rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật môi trường theo hướng đồng bộ, thống nhất, không chồng chéo; cụ thể hóa các chế tài xử phạt hành chính và hình sự; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp; kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý môi trường cấp quận, huyện, xã, phường.
  • Nhóm giải pháp tăng cường hiệu lực quản lý, điều hành: Nâng cao chất lượng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM); siết chặt cấp phép và kiểm tra công nghệ xả thải của các dự án đầu tư nước ngoài và trong nước; hoàn thiện công cụ kinh tế (thuế môi trường, phí phát thải, ký quỹ phục hồi môi trường); tăng cường năng lực quan trắc, dự báo và ứng phó sự cố môi trường.
  • Nhóm giải pháp tạo sự đồng thuận xã hội và xã hội hóa: Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật môi trường; đưa nội dung giáo dục sinh thái vào hệ thống giáo dục quốc dân; xây dựng cơ chế giám sát phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; huy động các nguồn lực tài chính xã hội cho các dịch vụ thu gom, tái chế và xử lý chất thải.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án làm sáng tỏ và phát triển lý luận triết học Mác - Lênin về chức năng xã hội của Nhà nước trong mối quan hệ với bảo vệ môi trường sinh thái, tiếp cận dưới góc độ Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Xác lập và chuẩn hóa hệ thống quan niệm, nội dung và các tiêu chí thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường, cung cấp cơ sở lý luận cho các khoa học xã hội và nhân văn khi nghiên cứu về quản lý phát triển bền vững.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Khái quát và đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường của Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn 1993–2021, chỉ ra các nguyên nhân thuộc về nhận thức, thể chế và tổ chức thực hiện.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp có tính định hướng cho các cơ quan nhà nước, người làm công tác hoạch định chính sách và quản lý xã hội nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý, đổi mới mô hình quản lý tài nguyên - môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế được xác định từ phạm vi: Do giới hạn chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án chỉ tiếp cận nghiên cứu trách nhiệm của Nhà nước ở cấp độ bản chất, quy luật, chức năng xã hội và phương hướng mang tính khái quát, không đi sâu vào phân tích các thông số kỹ thuật sinh hóa môi trường hoặc xây dựng mô hình toán kinh tế lượng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong thực thi chính sách môi trường; các giải pháp chuyển đổi số trong quản lý dữ liệu tài nguyên môi trường; và việc thể chế hóa các cam kết quốc tế mới về giảm phát thải khí nhà kính tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy:

  • Đối với các cơ quan quản lý và lập pháp: Cung cấp luận cứ phục vụ việc rà soát, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, sửa đổi luật chuyên ngành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập chuyên ngành Triết học, Quản lý tài nguyên và môi trường, Khoa học môi trường, Xã hội học và Luật học.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiếp cận trách nhiệm bảo vệ môi trường của Nhà nước từ góc độ chuyên ngành nào?
Luận án tiếp cận từ góc độ Triết học, cụ thể là chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 9229002), dựa trên cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên, cũng như chức năng xã hội của Nhà nước.

2. Khung thời gian và không gian nghiên cứu thực trạng trong luận án được xác định như thế nào?
Không gian nghiên cứu là lãnh thổ Việt Nam; thời gian nghiên cứu tập trung từ năm 1993 (khi Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ môi trường đầu tiên) đến năm 2021.

3. Tại sao bảo vệ môi trường lại thuộc trách nhiệm hàng đầu của Nhà nước theo luận giải của tác giả?
Bởi vì Nhà nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường; Nhà nước nắm giữ quyền lực công, hệ thống pháp luật và các công cụ quản lý vĩ mô để điều tiết hành vi xã hội, giải quyết các mâu thuẫn lợi ích mà từng cá nhân hay tổ chức riêng lẻ không thể tự thực hiện.

4. Hai dẫn chứng điển hình về thách thức môi trường được tác giả nêu trong phần mở đầu là gì?
Đó là đợt hạn hán nghiêm trọng đầu năm 2016 tại Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, và sự cố ô nhiễm môi trường biển do Công ty TNHH Formosa Hà Tĩnh gây ra tại 4 tỉnh miền Trung (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế).

5. Luận án đề xuất bao nhiêu nhóm giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của Nhà nước?
Luận án đề xuất 3 nhóm giải pháp chính: (1) Nâng cao trách nhiệm trong xây dựng hệ thống pháp luật và hoàn thiện tổ chức bộ máy; (2) Tăng cường hiệu lực quản lý, điều hành bằng công cụ kinh tế và hành chính; (3) Tăng cường trách nhiệm tạo đồng thuận xã hội, giáo dục đạo đức môi trường và đẩy mạnh xã hội hóa.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Vũ Kim Điềm đã làm rõ cơ sở lý luận triết học về trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường, luận giải mối quan hệ hữu cơ giữa chức năng xã hội của Nhà nước và mục tiêu phát triển bền vững. Công trình đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2021, chỉ ra các nguyên nhân căn bản của những tồn tại trong quản lý môi trường. Hệ thống 3 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án cung cấp luận cứ khoa học có giá trị tham khảo cho việc hoàn thiện chính sách, kiện toàn bộ máy và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường tại Việt Nam hiện nay.