Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những công trình nghiên cứu lý luận về trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ môi trường 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước Những vấn đề về môi trường bắt đầu được quan tâm vào thế kỷ XVIII khi quá trình khai thác tài nguyên, phục vụ cho quá trình CNH, đô thị hóa ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ phát triển rầm rộ và gây tác động to lớn tới TNMT ở nhiều nước, nhiều vùng. Một trong những tác giả có sự đóng góp vào quá trình nghiên cứu từ rất sớm về vấn đề lý luận môi trường phải kể đến là P.Marsh (1801-1882) với công trình “Con người và Thiên nhiên” (Man and Natura, New York, 1864) [191], tác giả đã trình bày những vấn đề khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên ở Mỹ sao cho hợp lý để không phá hủy môi trường, ngoài ra tác giả đã đề ra một số nguyên tắc cơ bản trong việc BVMT.
Tuy nhiên, vấn đề môi trường được thể hiện ra và được chú ý nhiều từ sau chiến tranh thế giới lần hai và đặc biệt là từ những năm 1960 trở lại đây. Nhiều tác giả và tác phẩm nghiên cứu về vấn đề môi trường xuất hiện ở nhiều nước. Đáng chú ý nhất là công trình “Môi trường của con người” (Environment of Man, Jack, Brestes. New York, (1968) [188] và công trình “Môi trường và con người” của R.Wagner (Environment and Man, New York, 1971) [198], tác giả đề cập tới nhiều khía cạnh của môi trường, từ đất đai, nguồn nước, không khí, các nguyên nhân tác động tới môi trường như CNH, đô thị hóa, giao thông, tăng trưởng dân số… Năm 1973, E.Schumacher đã ấn hành sách “Nhỏ là đẹp”(Small is beautiful) [187,] lên án mạnh mẽ việc công nghiệp hóa rầm rộ với mức độ tập trung cao theo lãnh thổ nhiều xí nghiệp to lớn.
Tháng 10/1975, IEEP đã tổ chức Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất về Giáo dục môi trường ở Beograde, kết thúc hội thảo đã đưa ra được một nghị định khung và tuyên bố về những mục tiêu và những nguyên tắc hướng dẫn giáo dục môi trường. Trong đó nêu rõ mục tiêu giáo dục môi trường là nhằm 6 n nâng cao nhận thức về vai trò của môi trường và hiểu biết về môi trường; giúp cho mỗi người xác định thái độ và lối sống cá nhân tích cực đối với môi trường; có những hành động cho một môi trường tốt đẹp. Từ năm 1980 trở lại đây, đánh dấu sự chuyển biến từ việc nhận thức sang hành động, được thể hiện ở sự xuất hiện ngày càng nhiều các công trình nghiên cứu về môi trường và con người. Ở giai đoạn này vừa có các công trình nghiên cứu về lý luận, vừa có các công trình nghiên cứu của các khoa học cụ thể về các thành phần của môi trường, như nghiên cứu yếu tố địa lý, nước, thảm thực vật, tài nguyên, không khí, sự ô nhiễm, ảnh hưởng qua lại của các thành phần môi trường với nhau và con người.
Bên cạnh đó, còn rất nhiều các công trình khác về công nghệ sạch và xử lý chất thải, sử dụng các nguồn lợi thiên nhiên và BVMT xung quanh, xử lý các chất thải lỏng và chất thải rắn. Trong đó, có các công trình được xuất bản như: “Một thế giới không thể chấp nhận được”, của Rênê Duymông [183]; “Phương hướng vận hành của thực tiễn sản xuất và sự hài hòa thống nhất giữa con người và tự nhiên”, của Bai Lifan [184]. Tác phẩm đáng lưu ý của Alvin Toffler [195] với hàng loạt tác phẩm đó là: Thăng trầm quyền lực (2 tập); Làn sóng thứ ba; Cú sốc tương lai; Tạo dựng một nền văn minh mới - Chính trị của làn sóng thứ ba; Chiến tranh và chống chiến tranh - Sự sống còn của loài người ở buổi bình minh của thế kỷ XXI. Bên cạnh đó còn có một số công trình của các nhà nghiên cứu tiêu biểu trên thế giới trong những năm qua đó là: Sách của các tác giả Michael Atchia, Shawna Tropp 1995, Environmental Management: Issues and Solutions [192] (Quản lý môi trường: các vấn đề và giải pháp).
Sách này được tổng hợp từ một loạt các hội thảo về BVMT do UNEP tổ chức. Sách là một tập hợp các bài thuyết trình tại các hội thảo của hơn 50 tác giả từ khắp nơi trên thế giới, mô tả các nguyên tắc, quy trình của hệ sinh thái và các công cụ quản lý môi trường cơ bản, trách nhiệm của chính phủ đối với việc BVMT, bên cạnh đó trách nhiệm của các tổ chức trong việc tài trợ, cần thiết cho quản lý môi trường, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Do vậy, các vấn đề liên quan đến môi trường được thảo luận, với mục đích làm thế nào để vận hành chính sách phát triển bền vững. 7 n Công trình của tác giả Paul R.
Stavins 2000, Public Policies for Environmental Protection, Resources for the Future Washington, DC (Chính sách công về BVMT, Tài nguyên cho tương lai Washington, DC) [193]. Đây là một công trình tham khảo tiêu biểu về các chương trình quy định chính của EPA. Tác giả đã cung cấp thông tin cơ bản về kinh tế môi trường, chính trị môi trường và giải thích về các lựa chọn chính sách trong chương thứ nhất. Chương thứ hai là những quy định của liên bang, chính sách ô nhiễm không khí và nước, các chất độc hại.
Nó bao gồm bảo hiểm và các chương về các chính sách môi trường, biến đổi khí hậu toàn cầu, và giảm thiểu và xử lý chất thải rắn. Trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc bảo vệ TNTN. Công trình của tác giả Robert W.Collin 2005, The Environmental Protection Agency: Cleaning Up America's Act (Understanding Our Government), Greenwood (Cơ quan BVMT: Đạo luật làm sạch nước Mỹ (Hiểu về chính phủ của chúng ta, Greenwood) [189]. Công trình cung cấp lịch sử ngắn gọn về cơ quan BVMT cùng với hoạt động hành chính trong công tác BVMT, sách trình bày các hoạt động hàng ngày và truyền thống và văn hóa tác động đến BVMT.
Các tranh cãi chính trị và tác động xã hội của cơ quan này là rất lớn, liên quan đến tòa án, lập pháp, các quan chức được bầu và tác động của các hành động của nó là rất lớn, ảnh hưởng đến từng người dân ở Hoa Kỳ. Công trình của tác giả Daniel.Chiras, 2014, Natural Resource Conservation: Management for a Sustainable Future, Pearson India [185] (Bảo tồn TNTN: Sự quản lý cho một tương lai bền vững, Pearson Ấn Độ). Công trình tập trung vào vấn đề TNTN và bảo tồn môi trường. Tác giả mô tả các nguyên tắc, chính sách và thực hành sinh thái cần thiết để tạo ra một tương lai bền vững.
Các giải pháp lâu dài được đưa và lựa chọn từ các quan điểm xã hội, kinh tế và môi trường: giải quyết vấn đề bền vững, đất bảo tồn và nông nghiệp bền vững, quản lý dịch hại tổng hợp, môi trường nước, quản lý bền vững tài nguyên nước, ô nhiễm nước, bảo tồn thủy sản, quản lý rừng, quản lý động vật và động vật hoang dã, quản lý chất thải bền vững, ô nhiễm không khí, thay đổi khí hậu toàn cầu, sự lắng đọng axit và sự suy giảm tầng ôzôn, khoáng sản… 8 n Nhìn chung tất cả các tác giả trên vạch ra cho chúng ta thấy hiện trạng đáng lo ngại của môi trường tự nhiên, nguyên nhân làm suy thoái ô nhiễm môi trường tự nhiên. Vì vậy, trách nhiệm của Nhà nước vô cùng quan trọng trong việc BVMT. Các công trình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam các hoạt động nghiên cứu về TNTN và môi trường đã được đề cập một cách khái quát và có một quá trình lịch sử lâu dài. Điều đó được thể hiện qua các công trình nghiên cứu của Chu Văn An, Tuệ Tĩnh từ thế kỷ XIV, tiếp theo đó là Lê Quý Đôn, Hải Thượng Lãn Ông từ thế kỷ XVIII.
Những công trình điều tra khảo sát về địa lý, địa chất, sinh học, y, dược, kinh tế, xã hội ở nước ta do những nhà nghiên cứu của Việt Nam thực hiện ở cuối thế kỷ XIV và đầu thế kỷ XIX có thể xem là những hoạt động nghiên cứu riêng lẻ về môi trường. Vấn đề môi trường theo nghĩa rộng bao gồm cả TNTN và các nhân tố môi trường sống con người được nghiên cứu từ những năm 1970 - 1980, đã có sách, báo đề cập về vấn đề này của một số tác giả như: Nguyễn Trọng Chuẩn, “Chủ động đề phòng nạn ô nhiễm môi trường trong quá trình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Triết học [36]; Phạm Thị Ngọc Trầm “Bảo vệ môi trường sống phải trở thành một nhiệm vụ của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật ở nước ta” Tạp chí Triết học [164]; Lê Bá Thảo, “Giáo dục môi trường cho nhân dân”, Tạp chí Hoạt động Khoa học [149]. Nguyễn Ngọc Sinh, “Môi trường và tài nguyên Việt Nam” Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà nội, [148]; Trần Trọng Hựu “Chính sách sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường của Nhà nước ta”, Tạp chí Hoạt động Khoa học [83]; Nguyễn Ngọc Hải, “Một số thành tựu về công nghệ sinh học thế giới” Tạp chí Hoạt động Khoa học [68]. Các tác giả bàn tới vấn đề môi trường sống, quan hệ giữa con người và môi trường, BVMT và khai thác tài nguyên ảnh hưởng của các công trình xây dựng tới vùng sinh thái xung quanh, một số tác giả đề ra các phương án BVMT, bảo vệ rừng, mối quan hệ giữa môi trường và dân số,.
Về vấn đề môi trường, tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm đã có rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí như: “Khía cạnh triết học – xã hội của vấn đề môi trường sinh thái ở Việt Nam” [169]; “Về cách tiếp cận triết học – xã hội đối với hiện trạng môi 9 n trường sinh thái nhân văn ở Việt Nam: các vấn đề, nguyên nhân và giải pháp” [170]; “Xây dựng đạo đức sinh thái – một trách nhiệm của con người đối với tự nhiên” [173]. Trong các công trình này, tác giả đã đề cập đến nhiều phương diện khác nhau của vấn đề BVMT sinh thái. Theo tác giả, nói đến môi trường sinh thái là nói đến môi trường tự nhiên – xã hội hay môi trường sinh thái – nhân văn; thực chất vấn đề môi trường sinh thái là đề cập đến mối quan hệ giữa con người – xã hội – tự nhiên. Tác giả khẳng định mục tiêu môi trường sinh thái là sự khai thác hợp lý các nguồn TNTN và BVMT sống ngày được tốt hơn.