CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG 1. Tổng quan về môi trường và quản lý nhà nước về môi trường 1. Khái niệm môi trường “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. “Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác” Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, quan cảnh, quan hệ xã hội…Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người.Tóm lại, môi trường là tất các những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.
Để có những căn cứ nhằm đánh giá độ tốt xấu của môi trường hay còn gọi là đánh giá chất lượng môi trường?. Ở đây chúng ta phải dùng đến hai thước đo đó là “Quy chuẩn kỹ thuật môi trường” và “Tiêu chuẩn môi trường”. Theo Luật Bảo vệ môi trường (2014): - “Quy chuẩn kỹ thuật môi trường (QCKTMT) là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để BVMT” [17]. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài thì hệ thống QCKTMT được chia thành hai nhóm: 10 + QCKT về chất lượng môi trường xung quanh gồm: Nhóm QCKTMT đối với đất Nhóm QCKTMT đối với nước mặt và nước dưới đất Nhóm QCKTMT đối với nước ven biển Nhóm QCKTMT đối với không khí + QCKT về chất thải gồm: Nhóm QCKT về nước thải công nghiệp, dịch vụ, nước thải từ chăn nuôi, nước thải sinh hoạt, phương tiện giao thông và hoạt động khác.
Nhóm QCKT về chất thải nguy hại. - “Tiêu chuẩn môi trường (TCMT) là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để BVMT” [17]. TCMT gồm: Tiêu chuẩn chất lượng môi trường xung quanh, tiêu chuẩn về chất thải và các tiêu chuẩn môi trường khác. Hiện nay, nước ta có trên 200 TCMT quy định về chất lượng môi trường.
đây là cơ sở để chúng ta đo mức độ chuẩn của môi trường, đồng thơi cũng là căn cứ để đánh giá mức độ vi phạm môi trường có liên quan. Như vậy, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường (TC, QCKTMT) được xây dựng nhằm phục vụ yêu cầu đánh giá hiện trạng và diễn biến môi trường xung quanh, làm căn cứ để xác định mức độ ô nhiễm môi trường. Theo Luật BVMT, nếu hàm lượng các chất độc hại trong môi trường vượt quá tiêu chuẩn cho phép thì môi trường được gọi là bị “ô nhiễm”. Khái niệm quản lý nhà nước về môi trường “Quản lý nhà nước về môi trường xác định rõ chủ thể là Nhà nước, bằng chức trách nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng 11 môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội” [8, tr.
Như vậy, QLNN về môi trường xác định rõ chủ thể là Nhà nước với mục tiêu cơ bản của công tác QLNN về môi trường ở nước ta trong giai đoạn CNH, HĐH hiện nay là: Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường của những nơi, những vùng đã bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các KCN, đô thị và nông thôn góp phần phát triển kinh tế xã hội bền vững, nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Các mục tiêu này được cụ thể hóa thành các mục tiêu cụ thể như sau: - Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người. - Tăng cường công tác QLNN về môi trường từ trung ương đến địa phương, công tác nghiên cứu đào tạo cán bộ về môi trường. - Xây dựng các công cụ có hiệu lưc quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ riêng biệt.
Để thực hiện tốt việc quản lý BVMT cần phải biết sử dụng sức mạnh tổng hợp các biện pháp, các loại công cụ quản lý một cách đồng bộ, thích hợp. Mỗi một công cụ quản lý chỉ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định. Nhiệm vụ của Nhà nước là liên kết chúng lại với nhau một cách thích hợp để chúng có thể hỗ trợ lẫn nhau. Vì các công cụ QLNN là sự cụ thể hóa các biện pháp, phương tiện nhằm thực hiện những nội dung của công tác quản lý BVMT của Nhà nước ở tất cả các cấp.
Công cụ QLNN về môi trường có thể phân loại theo chức năng gồm: Công cụ điều chỉnh vĩ mô, công cụ hành động và công cụ hỗ trợ. Công cụ điều chỉnh vĩ mô là luật pháp và chính sách. Công cụ hành động là các công cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động kinh tế - xã hội, như các quy định hành chính, quy định xử phạt v. và công cụ kinh tế.
Công cụ hành động là vũ 12 khí quan trọng nhất của các tổ chức môi trường trong công tác BVMT. Thuộc về loại này có các công cụ kỹ thuật như GIS, mô hình hoá, đánh giá môi trường, kiểm toán môi trường, quan trắc môi trường [24, tr. Công cụ QLMT có thể phân loại theo bản chất thành các loại cơ bản sau: [24, tr. - Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương.
- Các công cụ kinh tế gồm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh. Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường. - Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường. Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giá môi trường, minitoring môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải.
Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào. Để tổ chức công tác QLNN về môi trường cần phải có một hệ thống quản lý hữu hiệu. Hệ thống tổ chức QLNN về môi trường ở nước ta ở cấp trung ương có Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ liên quan; cấp tỉnh, tỉnh có Sở Tài nguyên và môi trường; cấp huyện, huyện có Phòng Tài nguyên và Môi trường; cấp xã, phường, thị trấn có cán bộ địa chính. Theo nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Chính phủ thống nhất QLNN về BVMT trong cả nước.
Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng QLNN về BVMT. Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện BVMT 13 trong ngành và các cơ sở trực thuộc quản lý trực tiếp. Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, tỉnh trực thuộc trung ương thực hiện chức năng QLNN về BVMT tại địa phương. Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, tỉnh trực thuộc Trung ương trong việc BVMTở địa phương.
Nguyên tắc quản lý nhà nước về môi trường Dựa trên tiêu chí chung của công tác QLMT là đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành, phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước, góp phần gìn giữ môi trường chung của loài người trên Trái đất. Các nguyên tắc chủ yếu của công tác QLMT bao gồm: - Hướng công tác QLMT tới sự phát triển bền vững kinh tế xã hội, giữ cân bằng giữa phát triển và BVMT. - Kết hợp các mục tiêu quốc gia – quốc tế - vùng lãnh thổ và cộng đồng dân cư trong việc QLMT. - Quản lý môi trường cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp đa dạng và thích hợp.
- Phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn để chủ động trong việc xử lý, kiểm soát, phục hồi môi trường nếu gây ra sự cố ô nhiễm môi trường. - Người gây ô nhiễm phải trả tiền cho các tổn thất do ô nhiễm môi trường gây ra và các chi phí xử lý, hồi phục môi trường bị ô nhiễm. Người sử dụng các thành phần môi trường phải trả tiền cho việc sử dụng gây ra ô nhiễm đó. Vai trò của quản lý nhà nước về môi trường Tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội đều cần phải có sự quản lý của nhà nước và môi trường cũng không ngoại lệ.
Hơn thế nữa, BVMT là một hoạt động, nhiệm vụ phức tạp bởi môi trường là phạm vi rộng lớn nên rất cần có sự quản lý của nhà nước. Kinh nghiệm ở các nước đã đạt được thành tích cao 14 trong hoạt động BVMT cho thấy, QLNN có vị trí quan trọng trong tổng thể nỗ lực BVMT, có vai trò to lớn trong việc tạo ra cơ chế hoạt động cho các tổ chức, cơ quan BVMT. QLNN nếu thực hiện tốt sẽ góp phần bảo vệ, cải thiện môi trường, khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường, bảo đảm cho việc sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lí và luôn giữ được môi trường ở trạng thái cân bằng mà vẫn xây dựng và phát triển được nền kinh tế mạnh từ một nền kinh tế còn yếu như nước ta.