Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với cơ quan hành chính Nhà nước 1. Cơ quan hành chính nhà nước Cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước được thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước (quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp). Đó là hệ thống cơ quan đứng đầu là Chính phủ, ngoài ra còn có các bộ và các cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân các cấp.
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ sau khi giành độc lập đã rất chăm lo đến việc xây dựng và phát triển chính quyền địa phương. Theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường. Theo đó, chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính trên, gồm có HĐND và UBND nhằm bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định những vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên. Các cơ quan hành chính được thành lập bởi Hiến pháp: Các cơ quan thành lập trên cơ sở Hiến pháp có vị trí pháp lý ổn định được gọi là các cơ quan hiến định, gồm: - Chính phủ với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất.
- Ủy ban nhân dân các cấp là các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 8 Luan van Các cơ quan hành chính được thành lập bởi các luật, các văn bản dưới luật: Đó là các tổng cục, cục, vụ, các sở, ban trực thuộc các cơ quan hiến định nói trên. Các cơ quan thành lập trên cơ sở các luật và các văn bản dưới luật thường ít ổn định, nhưng có tính năng động hơn, phù hợp với những thay đổi của sự quản lý hành chính nhà nước. Trong hệ thống đó, UBND ở cấp chính quyền địa phương do HĐND cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. UBND tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao.
Căn cứ vào cấp đơn vị hành chính, đồng thời là các yếu tố liên quan đến thẩm quyền, tổ chức bộ máy, về đội ngũ cán bộ, công chức, có thể chia UBND thành: UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện, UBND cấp xã và các cấp tương đương. Các cơ quan hành chính trung ương: Gồm Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ quản lý nhà nước về ngành hay lĩnh vực công tác. Hoạt động quản lý của các cơ quan này bao trùm trong phạm vi toàn quốc. Các quyết định quản lý do các cơ quan này ban hành có hiệu lực thực thi trong phạm vi cả nước.
Các cơ quan hành chính nhà nước địa phương: Gồm ủy ban nhân dân các cấp và các sở, phòng, ban thuộc ủy ban nhân dân, hoạt động quản lý trong phạm vi lãnh thổ địa phương. Các văn bản do các cơ quan này ban hành chỉ có hiệu lực pháp lý trong phạm vi lãnh thổ hoạt động của các cơ quan đó, đối với các tổ chức và công dân tại địa phương đó. UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, sử dụng quyền lực nhà nước trong hoạt động có tính chất điều hành, chỉ đạo, tổ chức thực tiễn để đưa chính sách, pháp luật vào cuộc sống và góp phần bảo đảm sự quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở. 9 Luan van Từ những phân tích trên, có thể rút ra khái niệm: Cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước ở địa phương, trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành - điều hành, có cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định.
Cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh là bộ phận của bộ máy nhà nước nên cũng có các đặc điểm chung của cơ quan nhà nước như sau: - Cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh có quyền nhân danh Nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lí với mục đích hướng tới lợi ích công (mang tính quyền lực nhà nước). Biểu hiện của tính quyền lực nhà nước đó là: Cơ quan hành chính có quyền ban hành các văn bản pháp luật và có thể được áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhà nước nhất định. - Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh có cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Cơ cấu tổ chức của cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh được quy định cụ thể trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
- Nguồn nhân sự chính trong cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh là đội ngũ cán bộ, công chức được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quy định của Luật cán bộ, công chức. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính gồm có HĐND và UBND nhằm bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định những vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên. Để góp phần bảo đảm thi hành pháp luật, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước của UBND, các cơ quan này cần có các cơ quan giúp việc quản lý gọi là “cơ quan chuyên môn” hay “cơ quan có thẩm quyền chuyên môn” hoặc “cơ quan có thẩm quyền riêng”. Các cơ quan 10 Luan van chuyên môn có vị trí, vai trò là cơ quan tham mưu, giúp việc cho UBND thực hiện quản lý ngành, lĩnh vực được thống nhất từ trung ương đến cơ sở.
Hiểu theo nghĩa phân tích từ vựng, cơ quan chuyên môn là cơ quan chuyên trách về chuyên môn, lĩnh vực, mặt công tác… Theo Đại từ điển tiếng Việt, cơ quan chuyên môn là “cơ quan chuyên trách một ngành cụ thể của nhà nước”.466] Từ điển giải thích luật học cho rằng, cơ quan chuyên môn thuộc UBND được giải thích là cơ quan có nhiệm vụ giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cấp mình, đồng thời chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên. Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước UBND và cơ quan chuyên môn cấp trên và khi cần thiết thì báo cáo công tác trước HĐND. Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp giải thích như sau: Cơ quan chuyên môn thuộc UBND là cơ quan có nhiệm vụ tham mưu, giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cùng cấp và theo quy định của pháp luật, góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở.
Cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp trên.” Nhìn nhận cơ quan chuyên môn như một bộ máy giúp việc của UBND, Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2013 đưa ra quan niệm: Cơ quan chuyên môn thuộc UBND không phải là cơ quan hành chính nhà nước mà là các cơ quan thực hiện hoạt động chấp hành, điều hành giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước.198] 11 Luan van Xem xét ở khía cạnh thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước đối với ngành, lĩnh vực trong phạm vi quản lý của UBND cùng cấp, tác giả Đỗ Xuân Đông lại cho rằng: “Cơ quan chuyên môn thuộc UBND là cơ quan thực thi quyền lực hành chính của UBND”. Cũng tiếp cận ở góc độ quản lý nhà nước, tác giả Trần Nho Thìn quan niệm cơ quan chuyên môn thuộc UBND là một loại cơ quan có thẩm quyền riêng, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành hoặc lĩnh vực nhất định, theo nguyên tắc một thủ trưởng, chịu trách nhiệm cá nhân và do nhà nước bổ nhiệm (như bộ, sở…). Ở nước ta, do yêu cầu quản lý công việc, trong ba đơn vị hành chính là cấp tỉnh, huyện, xã, cơ quan chuyên môn được thành lập ở hai cấp là cấp tỉnh và cấp huyện. Tùy thuộc vào nhiệm vụ, mục tiêu mà mỗi giai đoạn khác nhau, các cơ quan chuyên môn được pháp luật quy định khác nhau về tên gọi như ty, sở, ban và tương đương (cấp tỉnh); phòng, ban và tương đương (cấp huyện).
Mặc dù tên gọi, vị trí, tính chất của các cơ quan chuyên môn này trong mỗi giai đoạn được xác định khác nhau song các cơ quan này đều thực hiện chức năng quản lý đối với ngành, lĩnh vực trong quản lý hành chính nhà nước ở địa phương.