Đặt vấn đề Môi trƣờng có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển của đời sống con ngƣời, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nƣớc, sự biến đổi một số thành phần môi trƣờng sẽ tác động đáng kể đối với các hệ sinh thái. Tuy nhiên môi trƣờng sống của chúng ta đang bị ô nhiễm và ngày càng trầm trọng, nó xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhƣng chủ yếu nhất là hoạt động của con ngƣời. Việt Nam hiện nay đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc đã có những tác động không nhỏ đến môi trƣờng sống. Song trong thực tế việc thi hành pháp luật bảo vệ môi trƣờng chƣa đƣợc nghiêm minh, vấn đề quản lý môi trƣờng ở các cấp vẫn bộc lộ nhiều yếu kém, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý môi trƣờng chƣa đƣợc đào tạo một cách toàn diện, ý thức tự giác bảo vệ môi trƣờng và gìn giữ môi trƣờng công cộng chƣa trở thành thói quen trong cách sống, cách suy nghĩ của đại bộ phận dân cƣ.
Chợ Đồn là một huyện miền núi với vị trí địa lý thuận lợi, cùng nguồn tài nguyên đất, nƣớc, khoáng sản phong phú và đa dạng, huyện Chợ Đồn có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế đặc biệt là ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản. Trong những năm gần đây, tốc độ phát triển kinh tế của huyện Chợ Đồn luôn đạt mức cao, với sự phát triển của các ngành công nghiệp khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng., ngành nông nghiệp cũng đang từng bƣớc phát triển đặc biệt là chăn nuôi và trồng chè, tất cả đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, xã hội của huyện. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế - xã hội luôn kéo theo các vấn đề về gia tăng ô nhiễm, suy giảm chất lƣợng môi trƣờng đất, nƣớc, không khí, đa dạng sinh học, gây tác động trực tiếp đến cuộc sống của nhân dân. Hiện nay trên địa bàn huyện, nhiều khu vực đã bị ô nhiễm tới mức báo động đặc biệt là các vùng khai thác khoáng sản bị ô nhiễm do bụi, các loại chất thải từ quá trình khai thác và tuyển rửa quặng, chất thải từ hoạt động chăn nuôi, các loại hóa chất bảo vệ thực vật nhƣng chƣa đƣợc xử lý, hạn chế, giảm thiểu mà còn có chiều hƣớng gia tăng vì thế việc quản lý nhà nƣớc về e 2 môi trƣờng là một trong những yêu cầu cấp bách, một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững của huyện Chợ Đồn nói riêng và của tỉnh Bắc Kạn nói chung.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế đó, đƣợc sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trƣờng, ban Chủ nhiệm khoa Môi trƣờng, trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự hƣớng dẫn của thầy giáo Nguyễn Tuấn Anh tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về môi trường tại huyện Chợ Đồn – tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012 -2013”. Mục đích của đề tài - Đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nƣớc về môi trƣờng tại huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012 – 2013. - Giúp cho mọi ngƣời có những hiểu biết về công tác quản lý Nhà nƣớc về môi trƣờng nói chung và thực trạng công tác quản lý Nhà nƣớc về môi trƣờng tại Chợ Đồn nói riêng. - Làm rõ những kết quả đạt đƣợc và những hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý Nhà nƣớc về môi trƣờng.
- Phân tích những nguyên nhân và đề xuất các phƣơng hƣớng giải quyết những tồn tại đó.3 Mục tiêu của đề tài - Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng của huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012 – 2013 dựa vào các công cụ quản lý môi trƣờng đã đƣợc học nhƣ: + Công cụ pháp luật (Các văn bản, chỉ thị, thông báo…) + Công cụ kinh tế (Phí, phí rác thải, lệ phí môi trƣờng) - Tìm hiểu về các hoạt động bảo vệ môi trƣờng tại huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012 – 2013. - đƣa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ môi trƣờng. Đồng thời giúp cộng đồng nhận thức đƣợc đúng chất lƣợng môi trƣờng của mình đang sống, khuyến khích họ có ý thức tự quản lý và bảo vệ môi trƣờng sống của chính mình. Yêu cầu của đề tài - Nắm vững những nội dung về quản lý môi trƣờng đƣợc quy định tại Luật bảo vệ môi trƣờng và các văn bản khác có liên quan.
- Nắm rõ thực trạng công tác quản lý môi trƣờng, định hƣớng cho công tác quản lý môi trƣờng của huyện Chợ Đồn. - Nâng cao kiến thức thực tế của bản thân phục vụ cho công tác sau khi ra trƣờng. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập: Giúp cho sinh viên có điều kiện áp dụng lý thuyết đã học vào thực tế trong công tác quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng, đồng thời học hỏi đƣợc thêm kinh nghiệm thực tế trong quá trình thực tập tại cơ quan. - Ý nghĩa thực tiễn: Quá trình nghiên cứu công tác quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng tại huyện Chợ Đồn để biết đƣợc những việc đã làm đƣợc và chƣa làm đƣợc trong thực tiễn từ đó tìm ra những giải pháp nhằm tăng cƣờng khả năng quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng một cách chặt chẽ và khoa học hơn.
e 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của công tác quản lý môi trƣờng 2. Khái niệm môi trường và quản lý môi trường * Khái niệm môi trường: Môi trƣờng bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con ngƣời, có ảnh hƣởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con ngƣời và sinh vật. Môi trƣờng sống của con ngƣời theo chức năng đƣợc chia thành các loại: + Môi trƣờng tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên nhƣ các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học, tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con ngƣời.
+ Môi trƣờng xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa ngƣời với ngƣời tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và cộng đồng loài ngƣời. + Môi trƣờng nhân tạo: Là tất cả các yếu tố tự nhiên, xã hội do con ngƣời tạo nên và chịu sự chi phối của con ngƣời. Môi trƣờng theo nghĩa rộng là tổng các nhân tố nhƣ không khí, nƣớc, đất, ánh sáng, âm thanh, cảnh quan, xã hội… Có ảnh hƣởng tới chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời và các tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho sinh sống và sản xuất của con ngƣời. Môi trƣờng theo nghĩa hẹp là các nhân tố nhƣ: Không khí, nƣớc, đất, ánh sáng… liên quan tới chất lƣợng cuộc sống con ngƣời, không xét tới tài nguyên (Trƣơng Thanh Nam, 2006) [4].
“Quản lý môi trƣờng là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con ngƣời dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và kĩ năng điều phối thông tin đối với các vấn đề môi trƣờng có liên quan đến con ngƣời, xuất phát từ quan điểm định lƣợng, hƣớng tới sự phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên” (PGS. Nguyễn Ngọc Nông và cs, 2006) [5]. Quản lý Nhà nƣớc về BVMT xác định rõ chủ thể là Nhà nƣớc, bằng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đƣa ra các biện pháp, luật e 5 pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ môi trƣờng sống và phát triển bền vững kinh tế quốc gia (PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, 2003) [2]. Cơ sở triết học của quản lý môi trường Sự phát triển mạnh mẽ, liên tục của các cuộc cách mạng công nghiệp, cách mạng Khoa học và Công nghệ cùng với quá trình công nghiệp hóa trong thế kỷ vừa qua đã làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc bộ mặt của xã hội loài ngƣời và môi trƣờng tự nhiên.
Để có đƣợc các công cụ hiệu quả hơn trong quản lý môi trƣờng, chúng ta phải có cái nhìn bao quát, sâu sắc và toàn diện mối quan hệ giữa con ngƣời, xã hội và tự nhiên, hiểu biết đƣợc bản chất, diễn biến các mối quan hệ đó trong lịch sử. Nguyên lý về tính thống nhất vật chất thế giới gắn với tự nhiên, con ngƣời và xã hội thành một hệ thống rộng lớn “Tự nhiên - Con ngƣời - Xã hội”, trong đó yếu tố con ngƣời giữ vai trò quan trọng. Tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên – Con ngƣời – Xã hội” đòi hỏi việc giải quyết vấn đề môi trƣờng và thực hiện công tác quản lý môi trƣờng phải toàn diện và hệ thống. Con ngƣời nắm bắt cội nguồn sự thống nhất đó, phải đƣa ra các phƣơng sách thích hợp để giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong hệ thống đó.
Vì chính con ngƣời đã góp phần quan trọng vào việc phá vỡ tất yếu khách quan là sự thống nhất giữa tự nhiên – con ngƣời – xã hội. Sự hình thành những chuyên ngành khoa học nhƣ quản lý môi trƣờng, sinh thái nhân văn là sự tìm kiếm của con ngƣời nhằm nắm bắt và giải quyết các mâu thuẫn, tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên – Con ngƣời – Xã hội”. Sự phụ thuộc của mối quan hệ con ngƣời và tự nhiên vào trình độ phát triển của xã hội. Tự nhiên và xã hội đều có một quá trình lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp.
Con ngƣời xuất hiện trong giai đoạn cuối của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên. Sự điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ giữa con ngƣời và tự nhiên: sự phát triển của xã hội loài ngƣời ngày nay đang hƣớng tới các mục tiêu cơ bản là phồn thịnh về kinh tế, bình đẳng và công bằng về hƣởng thụ vật e 6 chất và môi trƣờng trong sạch, duy trì và phát triển các di sản văn hóa của nhân loại. Để tồn tại và phát triển, con ngƣời phải tiến hành điều khiển có ý thức mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên. Cơ sở Khoa học - Kỹ thuật - Công nghệ của quản lý môi trường Cơ sở khoa học Việc hình thành các bộ môn khác nhau của khoa học môi trƣờng, công nghệ môi trƣờng, thông tin môi trƣờng, kỹ thuật môi trƣờng.