Tổng quan nghiên cứu

Sự gia tăng nhanh chóng của quá trình đô thị hóa cùng mức tăng dân số cơ học đạt 545.386 người vào năm 2018 tại quận Thủ Đức đã thúc đẩy nhu cầu khám chữa bệnh tăng vọt, kéo theo áp lực ngày càng lớn lên hệ thống hạ tầng quản lý chất thải y tế. Địa bàn quận hiện là nơi tập trung của 178 cơ sở y tế, bao gồm 17 cơ sở công lập và 161 cơ sở tư nhân phân bố trên diện tích 47,76 km2. Tổng khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh trên toàn quận đã tăng liên tục từ 805 tấn năm 2016 lên 830 tấn năm 2017 và đạt 895 tấn vào năm 2018. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc kiểm soát dòng thải nguy hại nhằm bảo vệ sức khỏe cho hơn 50% dân số là nữ giới và toàn thể cộng đồng dân cư.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề bất cập trong khâu phân loại tại nguồn, năng lực thu gom và hiệu lực thanh tra, giám sát của cơ quan chức năng đối với mạng lưới y tế cơ sở. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý chất thải y tế, khảo sát và đánh giá toàn diện hiện trạng phát sinh chất thải rắn và nước thải y tế, đồng thời lượng hóa hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn quận Thủ Đức giai đoạn 2016–2018. Phạm vi nghiên cứu thực địa được tiến hành trong thời gian từ ngày 01/03/2019 đến ngày 29/07/2019. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp bộ dữ liệu đo lường chi tiết và các chỉ số môi trường chuẩn xác, tạo tiền đề để cơ quan quản lý địa phương chuẩn hóa quy trình vận hành và kiểm soát 100% các nguồn thải y tế nguy hại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa hai công cụ phân tích chiến lược là khung mô hình DPSIR (Động lực – Áp lực – Hiện trạng – Tác động – Đáp ứng) và ma trận phân tích SWOT (Điểm mạnh – Điểm yếu – Cơ hội – Thách thức). Khung DPSIR đóng vai trò chủ đạo trong việc bóc tách chuỗi tương tác nhân quả giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế, sự gia tăng giường bệnh với tải lượng ô nhiễm phát tán ra môi trường tự nhiên. Song song đó, ma trận SWOT được vận dụng để nhận diện các rào cản nội tại về nhân sự, cơ sở vật chất của bộ máy quản lý và nắm bắt các cơ hội từ khung pháp lý quốc gia.

Các khái niệm nền tảng được định nghĩa và chuẩn hóa theo Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 và Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT. Chất thải y tế được xác định là toàn bộ chất thải phát sinh từ các cơ sở y tế qua hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm và nghiên cứu, bao gồm chất thải y tế thông thường và chất thải y tế nguy hại. Chất thải nguy hại lây nhiễm được phân chia chi tiết thành chất thải lây nhiễm sắc nhọn, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao và chất thải giải phẫu. Hoạt động quản lý nhà nước về chất thải y tế được định nghĩa là việc thực thi quyền lực công thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh toàn bộ quá trình phân định, phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu và xử lý chất thải theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được tổng hợp đa tầng từ các báo cáo thống kê định kỳ giai đoạn 2016–2018 của Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Thủ Đức, Báo cáo số 1316/BC-BV của Bệnh viện quận Thủ Đức và Báo cáo số 706/BC-BVĐKKVTĐ của Bệnh viện Đa khoa khu vực Thủ Đức. Nghiên cứu kết hợp số liệu niên giám thống kê kinh tế - xã hội quận và hồ sơ quan trắc môi trường đạt chuẩn QCVN 28:2010/BTNMT.

Cỡ mẫu nghiên cứu được thiết kế với quy mô 100 phiếu điều tra xã hội học và khảo sát hiện trường tại 50 cơ sở y tế trên địa bàn 12 phường. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để chia đối tượng tham vấn thành hai nhóm: nhóm 50 phiếu dành cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân nhằm đánh giá nhận thức phân loại rác, nhóm 50 phiếu dành cho cán bộ phụ trách quản lý chất thải tại các bệnh viện, trung tâm y tế và phòng khám tư nhân. Đồng thời, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu trực tiếp cán bộ chuyên trách tại Phòng Tài nguyên và Môi trường.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích số liệu thống kê qua phần mềm chuyên dụng và ứng dụng hệ số ô nhiễm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2013) là nhằm đảm bảo tính khách quan, cho phép ước tính nhanh tải lượng ô nhiễm thực tế từ số lượng giường bệnh và lượt khám chữa bệnh hàng ngày. Toàn bộ lộ trình thu thập và xử lý dữ liệu được thực hiện nghiêm ngặt từ ngày 01/03/2019 đến ngày 29/07/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khối lượng chất thải rắn y tế trên địa bàn quận Thủ Đức ghi nhận mức tăng trưởng 11,18% trong giai đoạn 2016–2018, đạt đỉnh 895 tấn vào năm 2018. Dòng thải tập trung chủ yếu ở hai bệnh viện công lập lớn: Bệnh viện quận Thủ Đức chiếm 50% và Bệnh viện Đa khoa khu vực Thủ Đức chiếm 34% tổng lượng rác thải rắn toàn quận. Trong 10 tháng đầu năm 2018, Bệnh viện quận Thủ Đức phát sinh 377.048 kg chất thải, trong đó chất thải thông thường chiếm 60,32% (227.460 kg), chất thải nguy hại lây nhiễm chiếm 39,28% (chất thải không sắc nhọn đạt 136.032 kg, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao đạt 6.144 kg, chất thải giải phẫu là 4.372 kg và vật sắc nhọn là 1.512 kg), chất thải nguy hại không lây nhiễm chiếm tỷ lệ nhỏ 0,4% với 1.528 kg. Tương tự, tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Thủ Đức phát sinh 252.555 kg chất thải với tỷ lệ chất thải thông thường chiếm 60,04% và chất thải lây nhiễm chiếm 39,59%.

Lưu lượng nước thải y tế phát sinh toàn quận đạt khoảng 600 m3/ngày đêm. Bệnh viện quận Thủ Đức xả thải từ 200 đến 250 m3/ngày đêm (chiếm 42%), Bệnh viện Đa khoa khu vực Thủ Đức xả thải từ 150 đến 200 m3/ngày đêm (chiếm 33%), và 44 cơ sở y tế tư nhân phát sinh khoảng 100 m3/ngày đêm (chiếm 17%). Đáng chú ý, 100% trong số 17 cơ sở y tế công lập đã vận hành hệ thống xử lý nước thải đạt QCVN 28:2010/BTNMT Cột B, giúp nồng độ BOD5 giảm từ 300 mg/l xuống 40 mg/l và tổng Coliforms giảm mạnh từ 5x10^5 xuống dưới 5.000 MPN/100ml.

Ngược lại, khối y tế tư nhân với 161 cơ sở (chiếm 90,4% tổng số cơ sở) lại là mắt xích yếu nhất trong chuỗi quản lý. Khảo sát cho thấy có tới 30% cơ sở tư nhân chỉ trang bị 1 thùng rác duy nhất dùng chung cho cả rác sinh hoạt và rác y tế, 47% trang bị 2 thùng rác và chỉ 23% trang bị đủ 3 thùng rác theo quy định. Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm tại các phòng khám tư nhân và trạm y tế phường chỉ đạt 1 đến 2 lần/tuần hoặc 3 ngày/lần, hoàn toàn không đáp ứng yêu cầu thu gom tối thiểu 1 lần/ngày theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT.

Thảo luận kết quả

Diễn biến gia tăng chất thải được minh chứng rõ nét qua các biểu đồ cột thể hiện tải lượng từ 805 tấn năm 2016 lên 895 tấn năm 2018, đồng thời biểu đồ tròn phân tích cơ cấu nguồn thải đã trực quan hóa sự áp đảo tuyệt đối của khối bệnh viện công lập khi đóng góp tới 84% tổng lượng chất thải rắn y tế. Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải công suất 300 m3/ngày đêm tại Bệnh viện quận Thủ Đức đã làm rõ hiệu quả xử lý thông qua chuỗi bể thu gom có rọ chắn rác, bể lắng, bể thiếu khí anoxic kết hợp máy thổi khí, bể sinh học hiếu khí, bể khử trùng bằng Chlorine và hệ thống lọc áp lực.

Nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch lớn về hiệu quả quản lý giữa khối công lập và tư nhân bắt nguồn từ sự thiếu hụt nhân sự chuyên trách môi trường tại Phòng Tài nguyên và Môi trường quận. Ý thức của nhân viên y tế tại các cơ sở tư nhân còn hạn chế, kết hợp với việc nhiều người nhà bệnh nhân chưa nhận thức được mức độ nguy hại của rác lây nhiễm khiến tình trạng trộn lẫn rác sinh hoạt vào thùng rác nguy hại vẫn tái diễn. Hơn nữa, việc Công ty TNHH MTV Dịch vụ Công ích quận sử dụng xe mô tô hai bánh để thu gom rác y tế tại các ngõ hẻm tiềm ẩn nguy cơ rơi vãi và rách vỡ bao chứa.

So sánh với các nghiên cứu thực tế tại tỉnh Bình Dương và quận Bắc Từ Liêm (Hà Nội), kết quả nghiên cứu tại quận Thủ Đức phản ánh đúng thực trạng chung của các đô thị vùng ven: khối lượng chất thải tăng nhanh hơn tốc độ hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và năng lực thanh tra. Điều này khẳng định tầm quan trọng của việc phải chuyển dịch từ mô hình kiểm tra thụ động sang cơ chế giám sát số hóa định kỳ.

Đề xuất và khuyến nghị

Tăng cường năng lực thanh tra và chế tài xử phạt: Ủy ban nhân dân quận chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp Trung tâm Y tế quận thiết lập đoàn kiểm tra liên ngành, nâng tỷ lệ thanh tra lên 100% đối với 161 cơ sở y tế tư nhân trước quý IV năm 2020. Mục tiêu xử lý dứt điểm 100% các vi phạm liên quan đến việc sử dụng 1 thùng rác và hành vi xả thải chưa qua xử lý.

Chuẩn hóa quy trình thu gom và phương tiện vận chuyển chuyên dụng: Yêu cầu Công ty TNHH MTV Dịch vụ Công ích quận và Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị thành phố thay thế toàn bộ xe mô tô hai bánh bằng xe tải thùng kín chuyên dụng có hệ thống bảo ôn trước tháng 6 năm 2021. Nâng tần suất thu gom chất thải lây nhiễm tại 12 trạm y tế phường và các phòng khám tư nhân lên đúng quy chuẩn 1 lần/ngày, triệt tiêu hoàn toàn tình trạng lưu trữ rác thải quá 48 giờ.

Triển khai chương trình đào tạo và cấp chứng chỉ quản lý môi trường y tế: Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng Sở Y tế tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu định kỳ 6 tháng/lần cho 100% cán bộ quản trị và tối thiểu 90% nhân viên y tế tại tất cả các cơ sở khám chữa bệnh. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nhận thức và thực hành phân loại rác đúng chuẩn của nhân viên y tế và bệnh nhân lên trên 95% vào năm 2021.

Hỗ trợ kỹ thuật và kiểm soát nguồn nước thải y tế tư nhân: Ủy ban nhân dân quận phê duyệt gói hỗ trợ kỹ thuật hướng dẫn 44 cơ sở y tế tư nhân có phát sinh nước thải xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ đạt chuẩn QCVN 28:2010/BTNMT trong giai đoạn 2020–2022. Đồng thời, khuyến khích các bệnh viện lớn từng bước chuyển đổi từ công nghệ đốt rác sang công nghệ hấp vi sóng khử khuẩn nhiệt độ cao nhằm giảm phát thải khí độc Dioxin và Furan ra môi trường đô thị.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường cấp quận và Sở Tài nguyên và Môi trường: Luận văn cung cấp khung dữ liệu thực chứng và phương pháp đánh giá DPSIR hoàn chỉnh, giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng kế hoạch thanh tra trọng điểm, điều chỉnh định mức thu gom và hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành trên địa bàn đô thị.

Ban giám đốc và Hội đồng Kiểm soát nhiễm khuẩn tại các bệnh viện: Tài liệu mang lại giá trị thực tế cao trong việc chuẩn hóa quy trình phân loại rác thải tại các khoa lâm sàng, tối ưu hóa sơ đồ công nghệ xử lý nước thải y tế 300 m3/ngày đêm và kiểm soát triệt để nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp cho đội ngũ y bác sĩ.

Doanh nghiệp cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải: Nắm bắt chi tiết khối lượng, thành phần và biểu đồ phân bố nguồn thải tại 12 phường, từ đó tối ưu hóa lộ trình xe chuyên dụng, nâng cao tần suất thu gom và tính toán công suất xử lý phù hợp cho các lò đốt và trạm hấp khử khuẩn tập trung.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật Môi trường: Nguồn tài liệu học thuật giá trị về phương pháp ứng dụng hệ số ô nhiễm WHO, ma trận SWOT và kỹ năng xử lý số liệu điều tra xã hội học trong các đề tài nghiên cứu quản lý chất thải nguy hại.

Câu hỏi thường gặp

Chất thải rắn y tế tại quận Thủ Đức phát sinh chủ yếu từ những nguồn nào? Nguồn phát sinh tập trung lớn nhất tại khối cơ sở y tế công lập, trong đó Bệnh viện quận Thủ Đức đóng góp 50% và Bệnh viện Đa khoa khu vực Thủ Đức đóng góp 34% tổng lượng chất thải. Toàn bộ 161 cơ sở y tế tư nhân chiếm 13%, phần còn lại 3% phát sinh từ các trạm y tế phường và trung tâm y tế dự phòng.

Khó khăn lớn nhất trong khâu phân loại rác tại các phòng khám tư nhân là gì? Phần lớn các phòng khám tư nhân có quy mô hộ gia đình với diện tích nhỏ hẹp và số lượng khám dưới 20 lượt/ngày. Khảo sát chỉ ra 30% cơ sở chỉ trang bị 1 thùng rác duy nhất, thiếu bảng biển hướng dẫn và nhận thức của nhân viên chưa cao, dẫn đến việc để lẫn rác sinh hoạt vào rác lây nhiễm.

Hệ thống xử lý nước thải tại Bệnh viện quận Thủ Đức hoạt động theo nguyên lý nào? Hệ thống có công suất thiết kế 300 m3/ngày đêm, vận hành theo quy trình xử lý sinh học kết hợp gồm: song chắn rác, bể lắng 1, bể thiếu khí anoxic khử Nito, bể sinh học hiếu khí loại bỏ BOD/COD, bể lắng 2, bồn lọc composite và bể khử trùng bằng dung dịch Chlorine để diệt trừ triệt để vi khuẩn Coliforms trước khi xả thải.

Tần suất thu gom chất thải y tế tại các cơ sở y tế tư nhân hiện nay đã đạt chuẩn chưa? Hiện tại tần suất thu gom tại các cơ sở tư nhân và trạm y tế chỉ đạt từ 1 đến 2 lần/tuần hoặc 3 ngày/lần do lượng rác phát sinh mỗi ngày thấp. Tần suất này chưa đáp ứng đúng Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT, vốn quy định chất thải lây nhiễm phải được thu gom tối thiểu 1 lần/ngày.

Mô hình DPSIR mang lại lợi ích gì cho công tác đánh giá quản lý môi trường? Mô hình DPSIR giúp làm rõ mối liên hệ hữu cơ giữa Động lực phát triển đô thị, Áp lực gia tăng chất thải, Hiện trạng môi trường địa phương, Tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng và các Đáp ứng chính sách của Nhà nước, giúp nhận diện chính xác nguyên nhân gốc rễ để đề xuất giải pháp khả thi.

Kết luận

  • Toàn bộ 178 cơ sở y tế trên địa bàn quận Thủ Đức đã phát sinh 895 tấn chất thải rắn và hơn 600 m3 nước thải y tế mỗi ngày đêm vào năm 2018, trong đó hai bệnh viện tuyến quận chiếm tới 84% khối lượng rác thải rắn.
  • 100% trong số 17 cơ sở y tế công lập đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn QCVN 28:2010/BTNMT, tuy nhiên 30% cơ sở tư nhân vẫn chưa tuân thủ quy định phân loại rác tại nguồn.
  • Luận văn đóng góp hệ thống phương pháp luận hoàn chỉnh khi kết hợp thành công hệ số ô nhiễm WHO 2013, mô hình DPSIR và ma trận SWOT để định lượng thực trạng quản lý nhà nước về môi trường y tế.
  • Lộ trình giai đoạn 2020–2025 xác định mục tiêu then chốt: thanh tra định kỳ 100% cơ sở y tế, thay thế 100% xe thu gom thô sơ bằng xe tải chuyên dụng và chuẩn hóa tần suất thu gom rác lây nhiễm 1 lần/ngày.
  • Các nhà quản lý đô thị và lãnh đạo cơ sở khám chữa bệnh cần khẩn trương áp dụng bộ giải pháp đồng bộ về chính sách, công nghệ và đào tạo nhằm ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm, kiến tạo môi trường sống an toàn và bền vững cho người dân.