ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, công tác quản lý chất thải y tế (CTYT) nhận được sự quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước và các bộ ngành liên quan. Mới đây, thông tư liên tịch số 58/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 quy định về quản lý chất thải y tế được ban hành và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/4/2016, thay thế cho Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế để phù hợp hơn với tình hình quản lý chất thải y tế trong giai đoạn hiện nay. Thực tế cho thấy, trong quá trình chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, các cơ sở Y tế (CSYT) cũng đã thải ra một lượng lớn những chất thải Y tế, đặc biệt chất thải Y tế nguy hại (CTNH), trong đó chất thải rắn (CTR) phát sinh từ hoạt động y tế, cùng với sự gia tăng giường bệnh điều trị, khối lượng CTR có chiều hướng ngày càng gia tăng. Ước tính năm 2015, lượng chất thải rắn y tế (CTRYT) phát sinh là 600 tấn/ngày và năm 2020 sẽ là 800 tấn/ngày.
Đối với CTNH, tổng lượng phát sinh khoảng 800 nghìn tấn/năm [1]. Chất thải Y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế (CSYT) bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế có thể gây ra nhiều tác động xấu tới môi trường sống, sức khỏe con người, đặc biệt với nhân viên y tế, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân. CTYT lây nhiễm có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như: tụ cầu, HIV, viêm gan B,… chúng có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức như qua da (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da); qua các niêm mạc (màng nhầy); qua đường hô hấp (do xông, hít phải); qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải) [2]. Theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường Y tế năm 2018, cả nước có 13.664 cơ sở y tế, trong đó có 1.016 cơ sở thuộc hệ dự phòng, 77 cơ sở đào tạo Y, dược và 11.
Dưới áp lực từ việc gia tăng dân số, tình hình bệnh tật diễn biến ngày càng phức tạp như hiện nay, việc người dân tiếp cận dịch vụ y tế ngày một nhiều hơn và dễ hàng hơn dẫn đến gia số lượng cơ sở y tế, gia tăng giường bệnh do vậy lượng CTRYT phát sinh sẽ ngày càng lớn hơn và là gánh nặng cho cả ngành Y tế cũng như cho các bộ ngành liên quan. Luan van 2 Do đó, thực hiện tốt công tác quản lý CTYT không những góp phần bảo vệ sức khỏe cho nhân viên y tế, bệnh nhân, người chăm sóc cũng như sức khỏe cộng đồng và góp phần bảo vệ môi trường sống. Thực trạng về vấn đề quản lý CTRYT tại bệnh viện các tuyến đặc biệt đối với bệnh viên đa khoa tỉnh và huyện đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm triển khai nghiên cứu [3], [4], [5], [6]. Nhưng các nghiên cứu trước đây, được thực hiện theo hướng dẫn của Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế, chưa đánh giá được thực trạng công tác quản lý CTRYT theo hướng dẫn mới tại thông tư liên tịch số 58/TTLT-BYT- BTNMT ngày 31/12/2015.
Năm 2018, Trường Đại học Y Hà Nội triển khai đề tài nghiên cứu về “Xây dựng và thử nghiệm quy trình giảm thiểu chất thải rắn y tế” trong hoạt động của Cục Quản lý Môi trường Y tế - Bộ Y tế, nhằm đánh giá việc thực hiện giảm thiểu CTRYT nguy hại tại một số bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện và bệnh viện tư nhân ở 4 tỉnh Thái Nguyên, Nghệ An, Kiên Giang và Hà Nội. Đề tài chỉ rõ thực trạng về QLCTRYT và giảm thiểu CTRYT tại bệnh viện của 4 tỉnh trên và chỉ ra các thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện giảm thiểu CTRYT nguy hại để từ đó đưa ra các khiến nghị và kịp thời đề xuất giải pháp phù hợp cho việc giảm thiểu CTRYT nguy hại tại các CSYT. Luận văn này sử dụng một phần bộ số liệu của đề tài. Nằm trong khuôn khổ đề tài này, luận văn “Thực trạng và kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện đa khoa tỉnh năm 2018” được triển khai thực hiện nhằm góp phần cung cấp thêm số liệu về công tác quản lý CTRYT cho các nhà quản lý tại các Bệnh viện nghiên cứu cũng như các nhà quản lý các cấp có cơ sở để xây dựng và hoạch định chính sách trong lĩnh vực QLCTRYT.
Nghiên cứu được tiến hành với 2 mục tiêu như sau: 1. Mô tả thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại 3 bệnh viện đa khoa tỉnh Nghệ An, Kiên Giang và Đức Giang, thành phố Hà Nội năm 2018. Mô tả kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế của cán bộ y tế tại 3 bệnh viện nghiên cứu và một số yếu tố liên quan. Luan van 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số vấn đề cơ bản về quản lý chất thải rắn y tế 1. Các khái niệm cơ bản Theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 Thông tư liên tịch giữa Bộ Y tế (BYT) và Bộ Tài nguyên và Môi trường (BTNMT): Chất thải y tế (CTYT) là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế [7]. Chất thải y tế nguy hại (CTYTNH) là chất thải y tế chứa các yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm [7]. Chất thải rắn là chất thải ở dạng rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác [8].
Chất thải rắn y tế là chất thải y tế ở dạng rắn mà không phải ở dạng nước thải hay khí thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế [7], [8]. Quản lý chất thải rắn y tế bao gồm 1. Phân định chất thải rắn y tế * Theo Tổ chức Y tế Thế giới Theo báo cáo năm 1999 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [9], CTRYT gồm 8 loại, trong đó, chất thải y tế nguy hại bao gồm 6 loại: Chất thải sắc nhọn; chất thải lây nhiễm; chất thải giải phẫu; dược phẩm thải bỏ và chất gây độc tế bào; chất thải hóa học; chất thải phóng xạ và chất thải thông thường và bình áp suất. Theo báo cáo năm 2014 về Quản lý an toàn các chất thải từ hoạt động y tế của WHO: CTRYT được phân thành 2 nhóm chính: Chất thải y tế nguy hại (hazardous health-care waste) gồm 6 loại như chất thải y tế nguy hại ở trên và chất thải thông thường (general health-care waste).
Loại chất thải bình áp suất đã được gộp chung vào nhóm chất thải hóa học nguy hại [10]. Luan van 4 * Theo Thông tƣ liên tịch số 58/2015/ TTLT-BYT-BTNMT Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT do Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường (BTNMT) ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2015, quy định về quản lý chất thải y tế, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/4/2016. Trong đó, việc phân định chất thải y tế được chia thành 3 nhóm gồm chất thải lây nhiễm, chất thải nguy hại không lây nhiễm và chất thải y tế thông thường [7]. Cụ thể như sau: a.
Chất thải lây nhiễm bao gồm: - Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắc nhọn của dây chuyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh, cưa dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác; - Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính, chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly; - Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính máu bệnh phẩm phát sinh từ các buồng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định số 103/2016/NĐ- CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm; - Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm. Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm: - Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại; - Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất; - Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng; - Chất hàm răng amalgam thải bỏ; Luan van 5 c. Chất thải y tế thông thường bao gồm: - Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế; - Chất thải rắn thông thường phát sinh trong cơ sở y tế không thuộc danh mục chất thải nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại quy định nhưng các yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại; 1. Quy định về bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế - Bảo đảm lưu chứa an toàn chất thải, có khả năng chống thấm và có kích thước phù hợp với lượng chất thải lưu chứa - Màu sắc đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế quy định như sau: + Màu vàng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm + Màu đen đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải nguy hại không lây nhiễm + Màu xanh đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế thông thường + Màu trắng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải tái chế.
- Bao bì, dụng cụ đựng chứa chất thải y tế sử dụng phương pháp đốt không làm bằng nhựa PVC - Thùng, hộp đựng chất thải có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sử dụng - Thùng, hộp đựng chất thải sắc nhọn phải có thành, đáy cứng không bị xuyên thủng. Quy trình quản lý chất thải rắn y tế - Quản lý chất thải rắn y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý CTYT và giám sát quá trình thực hiện.