Chương I, Quy chế quản lý chất thải y tế năm 2007: “Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường. Chất thải y tế phát sinh từ hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo y tế” [3]. - Chất thải rắn y tế: Là chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động y tế như khám chữa bệnh, bào chế, sản xuất, đào tạo, nghiên cứu… - Chất thải rắn y tế thông thường: Là chất thải rắn y tế không chứa các chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người. - Chất thải rắn y tế nguy hại: Là chất thải rắn y tế có chứa các chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người.
- Quản lý chất thải rắn y tế: Là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu huỷ rác thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Phân loại chất thải rắn y tế Hầu hết các chất thải rắn từ quá trình khám chữa bệnh là các chất thải độc hại và mang tính đặc thù riêng. Các chất thải này phải được phân loại cẩn thận trước khi thải chung với các loại rác thải sinh hoạt, nếu không sẽ gây ra những nguy hại tới cộng đồng, như gây bệnh, hay làm lây lan dịch bệnh…Vì vậy phân lọai chất thải là một khâu rất quan trọng. Nếu việc phân loại chất thải được tiến hành tốt ngay từ đầu thì những khâu quản lý và xử lý sau này sẽ đạt hiệu quả cao, hạn chế tối đa sự ô nhiễm đối với môi trường xung quanh.
Hiện nay trên thế giới có nhiều cách phân loại chất thải y tế khác nhau. Có thể kể tới một số cách như sau: * Theo hệ thống phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): - Chất thải thông thường: Đó là các chất thải không độc hại, về bản chất nó tương tự chất thải sinh hoạt. - Chất thải là bệnh phẩm: Mô, cơ quan, phần tử bào thai người, xác động vật, máu, dịch thể… - Chất thải chứa phóng xạ: Là chất thải từ các quá trình chiếu, chụp X quang, phân tích tạo hình cơ quan cho cơ thể, điều trị và khu trú khối u… - Chất thải hóa học: Loại này có tính chất độc hại, có tính ăn mòn, gây cháy hay nhiễm độc gen. - Chất thải nhiễm khuẩn: Gồm các chất thải chứa các tác nhân gây bệnh, ví dụ như vi sinh vật kiểm định, bệnh phẩm bệnh nhân bị cách ly hoặc máu nhiễm khuẩn… - Các vật sắc nhọn: Là các vật như kim tiêm, lưỡi dao… có thể gây thương tích.
- Dược liệu: Là các dược liệu dư thừa hay quá hạn sử dụng. n 6 * Theo hệ thống phân loại của Mỹ: - Chất thải cách ly: Có thể gọi là chất thải truyền nhiễm mạnh bao gồm chất thải bản chất sinh học, các phế liệu bị ô nhiễm máu, các chất bài tiết, dịch rỉ, các chất thải của người bệnh bị cách li. - Chất thải động vật, xác động vật, các phần cơ thể của động vật kiểm nghiệm… - Các vật sắc nhọn thải bỏ: Kim tiêm, bơm tiêm, lưỡi dao, dụng cụ mổ… dùng trong chăm sóc bệnh nhân, điều trị và nghiên cứu y học, đồ thủy tinh vỡ có tiếp xúc với tác nhân gây nhiễm trùng. - Chất thải có chứa máu: máu lỏng, các dụng cụ chứa máu, các đồ thấm máu… - Những vật sắc nhọn không sử dụng: Kim tiêm, bơm tiêm, lưỡi dao…bị thải bỏ.
- Các chất thải gây độc tế bào. - Các chất phóng xạ. * Một cách khác, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 loại: - Chất thải lâm sàng (gồm 5 nhóm: A, B, C, D, E ). - Chất thải phóng xạ.
- Chất thải hóa học. - Các bình chứa khí có áp suất. - Chất thải sinh hoạt. + Chất thải lâm sàng.
Nhóm A: Là chất thải nhiễm khuẩn bao gồm vật liệu bị thấm máu, thấm dịch, các chất bài tiết của người bệnh như băng, gạc, bông, găng tay, bột bó trong gãy xương, đồ vải, các túi hậu môn nhân tạo, dây truyền máu, các ống thông, dây và túi đựng dịch dẫn lưu… n 7 Nhóm B: Là các vật sắc nhọn bao gồm bơm tiêm, kim tiêm, lưỡi và cán dao mổ đinh mổ, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và mọi vật liệu có thể gây ra vết cắt hoặc chọc thủng, cho dù chúng có thể bị nhiễm khuẩn hoặc không bị nhiễm khuẩn. Nhóm C: Là chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét nghiệm bao gồm găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi sinh khiết, xét nghiệm nuôi cấy, túi đựng máu. Nhóm D: Là chất thải dược phẩm, bao gồm » Dược phẩm quá hạn. » Dược phẩm bị nhiễm khuẩn.
» Dược phẩm bị đổ. » Dược phẩm không còn nhu cầu sử dụng. » Thuốc gây độc tế bào. Nhóm E: Là các mô và cơ quan người, động vật bao gồm tất cả các mô của cơ thể (dù bị nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn), các cơ quan, chân tay, rau thai, bào thai, xác động vật thí nghiệm.
+ Chất thải phóng xạ. » Chất thải phóng xạ rắn gồm: Các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chuẩn đoán, điều trị như ống tiêm, bơm tiêm, kính bảo hộ, giấy thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ… » Chất thải phóng xạ lỏng gồm: Dung dịch có chứa nhân phóng xạ, phát sinh trong quá trình chẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết, nước xúc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ… » Chất thải phóng xạ khí gồm: Các chất khí dùng trong lâm sàng như các khí , các khí thoát ra từ các kho chứa chứa chất phóng xạ… + Chất thải hóa học. Chất thải hóa học gồm hai loại: » Chất thải hóa học không gây nguy hại như đường, axít béo, một số muối vô cơ và hữu cơ. n 8 » Chất thải hóa học nguy hại, bao gồm: ♦ Fomal dehyde ♦ Các hóa chất quang hóa học.
♦ Các hợp chất hóa học hỗn hợp. + Các bình chứa khí có áp suất. Bao gồm các bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung và các bình đựng khí dùng một lần. Các bình này dễ gây cháy, nổ khi thiêu đốt vì vậy phải thu gom, xử lý riêng.
+ Chất thải sinh hoạt. Chất thải này không bị nhiễm các yêú tố nguy hại, nó phát sinh từ buồng bệnh, phòng làm việc, hành lang, các bộ phận cung ứng, nhà kho, nhà ăn… Ngoài ra còn có lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh. Nguồn phát sinh và khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh * Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế Theo định nghĩa của Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO: Chất thải bệnh viện là tất cả các chất thải từ các bệnh viện (kể cả dạng lỏng và rắn) mà trong đó khoảng 85% thực sự là chất thải không độc, khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% không nhiễm khuẩn nhưng là chất thải độc hại. Như vậy có thể thấy chất thải bệnh viện gồm hai phần chính: - Phần không độc hại chiếm khoảng 85% tổng số chất thải bệnh viện, phần này có thể xử lý như xử lý rác thải sinh hoạt.
- Phần độc hại chiếm khoảng 15% tổng số chất thải bệnh viện, phần này cần được thu gom và xử lý riêng, tránh gây nguy hại tới cộng đồng. Các phần chất thải này phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau trong bệnh viện như: từ sinh hoạt của cán bộ công nhân viên và bệnh nhân, từ các hoạt động khám chữa bệnh. n 9 Có thể biểu diễn các nguồn phát sinh chất thải rắn bệnh viện bằng sơ đồ sau: Buồng tiêm Phòng bệnh nhân không lây lan Phòng bệnh nhân Phòng mổ truyền nhiễm Khu bào chế Phòng xét nghiệm, dược chụp và rửa phim Khu hành chính Phòng cấp cứu Đường thải chung Trong đó: Chất thải lâm sàng. Chất thải phóng xạ.
Chất thải hóa học. Các bình chứa khí có áp suất. Chất thải sinh hoạt. Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải rắn y tế (Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia, 2011) [4].
* Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh Khối lượng chất thải phát sinh trong bệnh viện tuỳ thuộc vào đặc điểm của bệnh viện. Năm 2005 ở Việt Nam tổng lượng chất thải rắn phát sinh là 300 tấn/ngày, trong đó 40 tấn là chất thải y tế nguy hại (CTYTNH). n 10 Theo bảng trên đã cung cấp thông tin về việc phát sinh CTYT tại các bệnh viện và các khoa thuộc bệnh viện trung ương, tỉnh và quận. Do tổng số giường bệnh tại các Bệnh viện đa khoa, chuyên ngành chiếm tới 150.000 giường bệnh nên lượng chất thải y tế từ các cơ sở này cũng chiếm tới 70% tổng lượng phát sinh.
Khối lượng CTYT mỗi ngày trong năm 2010 khoảng 380 tấn/ngày, trong đó 45 tấn/ngày là CTYTNH. Lượng chất thải y tế phát sinh tại các bệnh viện và các khoa tại Việt Nam Tổng lượng chất thải y tế phát Lượng chất thải nguy hại phát sinh (kg/giường/ngày) sinh (kg/giường/ngày) Bệnh viện/ khoa BV cấp BV cấp BV cấp BV cấp BVTW TB BVTW TB tỉnh huyện tỉnh huyện Khám bệnh 0.14 Chăm sóc đặc biệt 1.10 Khoa tai Khoa bệnh học 0. Thành phần của chất thải rắn y tế - Thành phần vật lý: + Đồ bông vải sợi: Gồm bông, gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau… + Đồ thủy tinh: Chai lọ, ống tiêm, bơm thủy tinh, ống nghiệm… + Đồ giấy: Hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh… + Đồ nhựa: Hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng hàng… n 11 + Đồ kim loại: Kim tiêm, dao mổ, hộp đựng… + Bệnh phẩm: Máu mủ dính ở băng gạc… + Rác rưởi, lá cây, đất đá… - Thành phần hóa học: + Những chất vô cơ, kim loại, bột bó, chai thủy tinh, hóa chất, thuốc thử. + Đồ vải sợi, giấy, phần cơ thể, đồ nhựa… => Tổng quát, có thể coi thành phần hóa học của chất thải rắn bệnh viện gồm các thành phần: C, H, O, N, P, S, Cl, và một phần tro.
- Thành phần sinh học: + Máu, những loại dịch tiết, những động vật làm thí nghiệm, bệnh phẩm và đặc biệt là những vi trùng gây bệnh.