MỞ ĐẦU 1.1 Sự cần thiết của đề tài Ngày nay, vấn đề môi trường đang trở nên ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của loài người đang được các quốc gia và cộng đồng trên thế giới quan tâm. Bởi lẽ ô nhiễm môi trường, sự suy thoái và những sự cố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp không chỉ trước mắt mà còn ảnh hưởng về lâu dài cho các thế hệ mai sau. Toàn thế giới đều đã nhận thức được rằng: phải bảo vệ môi trường, làm cho môi trường phát triển và ngày thêm bền vững. Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, kinh tế cũng phát triển, dẫn đến nhu cầu khám và điều trị bệnh gia tăng, số bệnh viện gia tăng.
Từ năm 1997 các văn bản về quản lý chất thải bệnh viện được ban hành. Theo niên giám thống kê năm 2007 có 956 bệnh viện tuyến huyện trở lên nhưng hầu hết chưa được quản lý theo một quy chế chặt chẽ hoặc có xử lý nhưng theo cách đối phó hoặc chưa đúng. Ô nhiễm môi trường do các hoạt động y tế mà thực tế là tình trạng xử lý kém hiệu quả các chất thải bệnh viện. Hiện tại, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môi trường dân cư xung quanh, gây dư luận trong cộng đồng.
Ra đời từ năm 1976 “Viện điều dưỡng Bộ lương thực và Thực phẩm” ngày nay là Trung tâm Y tế lao động Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn đã trải qua hơn 30 năm hoạt động và trưởng thành. Từ một viện điều dưỡng nay trở thành Trung tâm Y tế ngành Nông Nghiệp Việt Nam, hoạt động qua nhiều thời kỳ Trung tâm y tế lao động vẫn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, bảo về sức khỏe cho cán bộ ngành Nông Nghiệp nói riêng và sức khỏe nhân dân nói chung. Ngày nay Trung tâm y tế Lao động (TTYTLĐ) đã phát triển lớn mạnh có cơ sở hạ tầng n 2 khang trang, có thiết bị y tế hiện đại và đồng bộ, có đội ngũ cán bộ viên chức có trình độ chuyên môn cao đáp ứng nhu cầu khám và điều trị bệnh nhân cùng với sự đổi mới và cải tiến công tác quản lý. Bên cạnh những thành quả đạt được thì, hiện nay, vấn đề nhức nhối tại Trung tâm là tình trạng Chất Thải Rắn Y Tế (CTRYT) thải ra với khối lượng khá lớn, đa phần là chất thải nguy hại mà hệ thống quản lý CTRYT thì còn thiếu sót.
Xuất phát từ những mối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm ẩn của chất thải y tế gây ra đối với môi trường và con người, cần có những biện pháp hữu hiệu để nâng cao nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng về những nguy cơ đó, nâng cao năng lực tổ chức, trách nhiệm và từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý chất thải cũng như nâng cao chất lượng cảnh quan vệ sinh cho Trung tâm. Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả quản lý CTRYT tại Trung tâm y tế Lao động, kết hợp với quá trình giám sát thực tế giúp tìm hiểu những thiếu sót còn tồn tại trong công tác quản lý hiện nay của Trung tâm, góp phần làm tăng hiểu biết và nâng cao ý thức cũng như chất lượng điều trị, giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn và giảm rủi ro bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế. Từ đó, nâng cao chất lượng quản lý rác thải y tế tại TTYTLĐ Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “ Đánh giá hiện trạng thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế Lao động Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn” được lựa chọn.2 Mục tiêu của đề tài Mục tiêu chính là bước đầu tìm hiểu mức độ ô nhiễm môi trường chung và hiện trạng quản lý CTRYT của TTYTLĐ, kết hợp với việc nhận xét, đánh giá những mặt thuận lợi và tồn tại trong công tác quản lý hiện tại của Trung tâm, nhằm đưa ra những biện pháp để góp phần cải thiện và hạn chế ô nhiễm môi trường của Trung tâm.
Cụ là sẽ tập trung giải quyết các mục tiêu sau: Đánh giá tổng hợp mức độ ô nhiễm môi trường chung và công tác quản lý CTRYT tại TTYTLĐ Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn. n 3 Đề xuất biện pháp quản lý phù hợp trong hoạt động bảo vệ môi trường tại Trung tâm.3 Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học của đề tài Báo cáo cung cấp số liệu điều tra thực tế về tình hình quản lý rác thải y tế tại TTYTLĐ, thực trạng về hệ thống quản lý CTRYT trong khu vực TTYTLĐ. Trên cơ sở đó phân tích những ưu và nhược điểm của hệ thống quản lý CTRYT, đồng thời đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp giúp cho các nhà quản lý có cơ sở khoa học để quản lý tốt hơn vấn đề CTRYT. - Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Đề tài cung cấp những dữ liệu liên quan đến hiện trạng quản lý môi trường và các giải pháp như là một cơ sở để so sánh giữa các bệnh viện tuyến huyện và các trung tâm y tế quanh khu vực với nhau.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Khái quát về ngành y tế Y tế là một ngành có truyền thống lâu đời, sự kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại đã tạo nên đặc trưng cơ bản của ngành y tế. Ngành y tế là một ngành then chốt trong lĩnh vực đảm bảo cho con người về mặt thể chất và là nghành độc lập có nhiều đối tượng (bệnh nhân) nhất, vì thế đây là ngành có cơ sở hoạt động rộng khắp toàn quốc. Y tế là ngành có mối quan hệ mật thiết với xã hội và là ngành có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, giải quyết các hậu quả xã hội, an toàn lao động. Vì thế, là một ngành luôn được quan tâm trong công tác bảo vệ môi trường trong sạch.2 Đặc trưng chất thải rắn y tế 2.1 Khái niệm về chất thải y tế Chất thải y tế (CTYT) là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo.
Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng và khí. Chất thải y tế nguy hại là những chất có chứa các thành phần như: máu, dịch cơ thể, các chất bài tiết, các bộ phận cơ thể, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất, và các chất phóng xạ dùng trong y tế. Nếu những chất thải này không được tiêu hủy sẽ nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người. Quản lý chất thải y tế là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành y tế và các ngành khác có liên quan nhằm bảo vệ môi trường sống, bảo vệ sức khỏe cho bản thân thầy thuốc, nhân viên y tế, người bệnh và cộng đồng.
Chất thải y tế là một trong những loại chất thải nằm trong danh mục A của danh mục các chất thải nguy hại. Chất thải y tế là một loại chất thải nguy hại, vì vậy việc quản lý chất thải y tế cần tuân thủ các quy định có liên quan đến quản lý chất thải nguy hại. Do giới hạn đề tài chỉ tập trung vào CTRYT nên trong phần tiếp theo em chỉ trình bày các nội dung liên quan đến loại CTYT này.2 Thành phần của CTRYT a. Thành phần vật lý Thành phần vật lý của CTRYT gồm các dạng sau: n 5 Bông vải sợi: Gồm bông băng, gạc, quần áo, khăn lau, vải trải… Giấy: Hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh.
Nhựa: Hộp đựng, bơm tiêm, dây chuyền máu, túi đựng hàng. Thủy tinh: Chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm. Kim loại: Dao kéo mổ, kim tiêm. Thành phần hóa học Thành phần hóa học gồm 2 loại sau: Vô cơ: Hóa chất, thuốc thử… Hữu cơ: Đồ vải sợi, phần cơ thể, thuốc….
Thành phần sinh học: Máu, bệnh phẩm, bộ phận cơ thể bị cắt bỏ.3 Phân loại CTRYT Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các bệnh viện được Bộ Y tế phân thành 5 nhóm theo quy chế quản lý chất thải y tế chung trên toàn quốc: Chất thải lây nhiễm Chất thải hóa học nguy hại Chất thải phóng xạ Các bình chứa khí nén có áp suất Chất thải thông thường a. Chất thải lây nhiễm Theo quy định của Bộ y tế, chất thải lây nhiễm được chia thành các nhóm sau: Nhóm A: chất thải nhiễm khuẩn, chứa mầm bệnh với số lượng, mật độ đủ gây bệnh, bị nhiễm khuẩn bởi vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm…bao gồm các vật liệu bị thấm máu, thấm dịch, chất bài tiết của người bệnh như gạc, bông, găng tay, bột bó gãy xương, dây truyền máu. Nhóm B: là các vật sắc nhọn như bơm tiêm, lưỡi, cán dao mổ, mảnh thủy tinh vỡ và mọi vật liệu có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, dù chúng có được sử dụng hay không sử dụng. Nhóm C: chất thải nguy cơ lây nhiễm phát sinh từ phòng xét nghiệm: găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi xét nghiệm, túi đựng máu… Nhóm D: là các mô cơ quan người – động vật, mô cơ thể ( nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn), chân tay, nhau thai, bào thai… n 6 b.
Chất thải hóa học nguy hại Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại như đường, axit béo, axit amin, một số loại muối… và hóa chất nguy hại như Formaldehit, hóa chất quang học, các dung môi, hóa chất dùng để tiệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử khuẩn, các hóa chất dùng trong tẩy uế, thanh trùng… Chất thải hóa học nguy hại gồm: Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng Formaldehit: Đây là hóa chất thường được sử dụng trong bệnh viện, nó được sử dụng để làm vệ sinh, khử khuẩn dụng cụ, bảo quản bệnh phẩm hoặc khử khuẩn các chất thải lỏng nhiễm khuẩn. Nó được sử dụng trong các khoa giải phẫu bệnh, lọc máu, ướp xác… Các chất quang hóa: Các dung dịch dùng để cố định phim trong khoa Xquang.