Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quản lý chất thải y tế là một thách thức môi trường và xã hội cấp bách tại Việt Nam. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 10% chất thải phát sinh từ các cơ sở y tế là chất thải nhiễm khuẩn và 5% là chất thải độc hại (chất phóng xạ, hóa chất gây độc tế bào, chất bài tiết từ quá trình chẩn đoán và điều trị). Sự gia tăng dân số cùng nhu cầu khám chữa bệnh mở rộng khiến lượng chất thải bệnh viện gia tăng nhanh chóng, trong khi hạ tầng xử lý tại nhiều địa phương miền núi còn lạc hậu, dẫn đến nguy cơ lan truyền mầm bệnh, nhiễm trùng bệnh viện và ô nhiễm nguồn tiếp nhận dân cư xung quanh.
Bệnh viện Đa khoa huyện Lục Yên (tỉnh Yên Bái) là cơ sở y tế hạng III, giữ vai trò khám chữa bệnh tuyến huyện cho người dân trên địa bàn miền núi gồm 24 xã, thị trấn. Mặc dù phục vụ khối lượng bệnh nhân lớn, công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện vẫn tồn tại nhiều hạn chế về phân loại, trang thiết bị thu gom và công nghệ xử lý cuối cùng. Xuất phát từ thực trạng đó, đề tài được thực hiện nhằm đánh giá hệ thống quản lý rác thải y tế tại đơn vị và đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quản lý phù hợp.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 4 nội dung cụ thể:
- Đánh giá hiện trạng thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Lục Yên.
- Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác thu gom và quản lý chất thải rắn tại Bệnh viện Đa khoa huyện Lục Yên.
- Tạo ra môi trường làm việc tốt hơn cho nhân viên y tế, nhân viên vệ sinh và bệnh nhân.
- Nâng cao nhận thức và hiểu biết của con người về chất thải nguy hại y tế trong quá trình điều trị và khám chữa bệnh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chất thải rắn y tế phát sinh tại bệnh viện; cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý; dụng cụ thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý; quy trình quản lý thực tế; cùng các nhóm đối tượng phơi nhiễm trực tiếp gồm nhân viên y tế, nhân viên vệ sinh, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân.
- Phạm vi không gian: Khuôn viên Bệnh viện Đa khoa huyện Lục Yên, thị trấn Yên Thế, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (diện tích 10.561 m²).
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu, khảo sát thực địa từ ngày 05/05/2014 đến ngày 05/08/2014; dữ liệu thứ cấp về khám chữa bệnh và phát sinh chất thải được kế thừa trong năm 2013 và các tháng đầu năm 2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên hệ thống khái niệm kỹ thuật môi trường và khung pháp lý hiện hành của Việt Nam:
- Các khái niệm cốt lõi: Chất thải rắn y tế (CTRYT), chất thải y tế nguy hại (CTYTNH), quản lý chất thải y tế (QLCTYT), giảm thiểu chất thải y tế tại nguồn và rác sinh hoạt y tế (RSHYT).
- Khung pháp lý và quy chuẩn: Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005; Chỉ thị số 17/2008/CT-TTg; Nghị định số 80/2006/NĐ-CP và Nghị định số 21/2008/NĐ-CP; Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT về quản lý chất thải nguy hại; Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế; Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg; Quyết định số 2038/QĐ-TTg; Quyết định số 170/QĐ-TTg; QCVN 02:2008/BTNMT (quy chuẩn lò đốt chất thải rắn y tế); TCVN 6707-2009 về chất thải nguy hại.
- Phân loại chất thải theo WHO và Bộ Y tế: Chất thải lây nhiễm (Nhóm A: nhiễm khuẩn; Nhóm B: vật sắc nhọn; Nhóm C: nguy cơ lây nhiễm cao từ phòng xét nghiệm; Nhóm D: dược phẩm quá hạn/hỏng; Nhóm E: mô và bộ phận cơ thể người/động vật); Chất thải hóa học; Chất thải phóng xạ; Bình chứa áp suất và Chất thải sinh hoạt.
- Cơ sở thực tiễn quốc tế: Khóa luận viện dẫn Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới các chất thải nguy hại, nguyên tắc "Người gây ô nhiễm phải trả tiền" (Polluter Pays Principle), nguyên tắc xử lý tại chỗ (Proximity Principle) và tổng quan các công nghệ xử lý chất thải rắn (lò đốt nhiệt độ cao, lò hấp khử khuẩn nhiệt ướt, hóa chất, vi sóng) cùng 4 nhóm công nghệ xử lý nước thải y tế theo phân loại của JICA (2006).
Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Tiếp cận hồ sơ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái cấp phép, sổ sách theo dõi cân rác hàng ngày tại phòng Kế hoạch - Tổng hợp, số liệu thống kê nhân lực, lượt khám chữa bệnh năm 2013 và báo cáo điều kiện kinh tế - xã hội huyện Lục Yên.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Tiến hành kiểm tra trực tiếp hiện trạng trang thiết bị, thùng chứa, xe đẩy, nhà lưu giữ rác thải; trực tiếp cân đo khối lượng rác thải phát sinh tại từng khoa với tần suất 3 lần/tuần (vào các ngày thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu) trong thời gian thực tập.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Phỏng vấn bằng phiếu điều tra ngẫu nhiên đối với 40 cán bộ nhân viên bệnh viện (bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý, nhân viên vệ sinh) và 20 người gồm bệnh nhân cùng người nhà bệnh nhân đang điều trị nội trú.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Toàn bộ số liệu thu thập được tổng hợp, phân loại và phân tích thống kê mô tả bằng phần mềm Microsoft Excel và Word.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả nêu rõ tính cấp thiết của công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh công lập. Trình bày chi tiết lý do lựa chọn địa bàn nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa huyện Lục Yên, xác định hệ thống mục tiêu, các yêu cầu kỹ thuật về tính trung thực, khách quan của số liệu khảo sát cùng ý nghĩa học tập và thực tiễn của khóa luận tốt nghiệp ngành Khoa học môi trường.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng hợp cơ sở lý luận, hệ thống hóa văn bản pháp quy từ cấp luật, nghị định, thông tư đến quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quản lý chất thải y tế. Khóa luận phân tích tỷ lệ thành phần rác thải y tế theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Khiển (chất hữu cơ chiếm 52,9%, rác nguy hại chiếm 22,6%) và nghiên cứu phối hợp giữa Bộ Y tế với WHO năm 2009. Tác giả tổng hợp số liệu thực trạng trên toàn quốc: cả nước có khoảng 450 tấn chất thải rắn y tế phát sinh mỗi ngày (trong đó 47 tấn/ngày là chất thải nguy hại); 50% bệnh viện phân loại và thu gom đạt yêu cầu quy chế; 29,4% bệnh viện xử lý bằng lò đốt 2 buồng hoặc vi sóng, 39,8% thuê công ty môi trường ngoài và 30,8% bệnh viện tuyến huyện, miền núi vẫn xử lý bằng lò đốt 1 buồng thủ công hoặc tự chôn lấp trong khuôn viên. Tác giả cũng tổng thuật nguy cơ nghề nghiệp, tỷ lệ lây nhiễm bệnh từ vật sắc nhọn (nguy cơ lây nhiễm HIV là 0,03%, viêm gan B và C từ 10% đến 40%), phân tích tác động tiêu cực đến môi trường đất, nước, không khí và điểm qua các công nghệ xử lý rác, nước thải y tế theo khuyến cáo của JICA.
Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày cấu trúc phương pháp luận của đề tài, xác định đối tượng nghiên cứu là dòng vật chất chất thải rắn phát sinh, hệ thống hạ tầng quản lý và con người tiếp xúc trực tiếp. Giới thiệu thời gian thực hiện nghiên cứu (từ ngày 05/05/2014 đến ngày 05/08/2014). Xác lập nội dung nghiên cứu gồm 4 hợp phần: điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội huyện Lục Yên; tổng quan quy mô bệnh viện; đánh giá định lượng hiện trạng phát sinh, phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý; khảo sát nhận thức cộng đồng. Mô tả chi tiết quy trình cân rác định kỳ 3 buổi/tuần tại các khoa nội trú và thiết kế mẫu điều tra phỏng vấn bán cấu trúc cho 40 cán bộ y tế và 20 bệnh nhân.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này phản ánh toàn bộ kết quả khảo sát thực tế và phân tích chuyên môn:
- Điều kiện tự nhiên - xã hội: Bệnh viện đặt tại tổ 13, thị trấn Yên Thế, huyện Lục Yên, cách thành phố Yên Bái 93 km. Huyện có diện tích tự nhiên 80.870 ha, dân số 105.104 người (năm 2008), gồm 16 dân tộc anh em sinh sống (dân tộc Tày chiếm 53,3%, Kinh 21,2%, Nùng 10,4%).
- Quy mô bệnh viện: Diện tích mặt bằng 10.561 m², quy mô 115 giường bệnh, cơ cấu gồm 12 khoa, phòng (3 phòng chức năng, 6 khoa chuyên môn nội - ngoại trú, các khoa khối dự phòng) và quản lý chuyên môn 2 phòng khám đa khoa khu vực, 24 trạm y tế xã. Tổng nhân sự là 127 cán bộ (103 biên chế, 24 hợp đồng), gồm 21 bác sĩ/y sĩ, 07 dược sĩ, 44 điều dưỡng, 44 hộ sinh/hộ lý/y công, 07 kỹ thuật viên và 24 cán bộ khác.
- Hoạt động khám chữa bệnh: Năm 2013, bệnh viện tiếp nhận 49.969 lượt khám bệnh, trung bình từ 3.276 lượt/tháng (tháng 6) đến 5.012 lượt/tháng (tháng 12).
- Hiện trạng phát sinh chất thải: Số liệu cân đo thực tế cho thấy khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trung bình là 0,094 kg/giường bệnh/ngày (tương đương 10,81 kg/ngày cho toàn viện); chất thải y tế thông thường là 0,068 kg/giường bệnh/ngày (7,82 kg/ngày) và chất thải y tế nguy hại là 0,038 kg/giường bệnh/ngày (4,37 kg/ngày). Tổng lượng rác thải y tế nguy hại phát sinh trong cả năm 2013 là 5.226 kg. Trong 3 tháng đầu năm 2014, tổng lượng chất thải nguy hại của 6 khoa trọng điểm là 115 kg; trong đó Khoa Sản phát sinh nhiều nhất (30 kg), tiếp đến là Khoa Ngoại (28 kg), Khoa Dược - Xét nghiệm (22 kg), Khoa Khám bệnh (17 kg), Khoa Nội - Nhi - Truyền nhiễm (11 kg) và thấp nhất là Khoa Đông y (7 kg). Xét về thành phần rác thải nguy hại: chất thải lây nhiễm chiếm 56,96% (52 kg) và chất thải sắc nhọn chiếm 40,04% (39,3 kg).
- Quy trình phân loại, thu gom, xử lý: Thực tế tại bệnh viện vận hành theo chu trình: Phân loại tại nguồn $\rightarrow$ Thu gom $\rightarrow$ Vận chuyển nội bộ $\rightarrow$ Chôn lấp thủ công trong khuôn viên. Bệnh viện chưa có hệ thống phân loại triệt để cho rác tái chế, không bán hoặc tái sử dụng vật liệu nhựa; thiếu thùng rác đạt chuẩn màu sắc tại các buồng bệnh. Phương tiện vận chuyển thô sơ, chủ yếu dùng xô, thùng hở mang vác bằng tay hoặc xe đẩy tay thông thường. Toàn bộ chất thải nguy hại và chất thải sinh hoạt sau thu gom được đem chôn lấp trực tiếp trong khuôn viên đất của bệnh viện, không qua thiêu đốt hay khử khuẩn bằng nhiệt ướt.
- Nhận thức của các nhóm đối tượng: Khảo sát 40 cán bộ nhân viên y tế cho thấy đa số nắm được các quy định cơ bản của Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT, nhưng mức độ tuân thủ nghiêm ngặt trong phân loại tại một số thời điểm quá tải bệnh nhân còn thấp. Khảo sát 20 bệnh nhân và người nhà cho thấy mức độ hiểu biết về mã màu sắc túi đựng rác y tế còn hạn chế, dẫn đến việc vứt rác sinh hoạt lẫn vào xô rác y tế hoặc ngược lại.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết các chỉ số định lượng về tải lượng phát sinh rác thải, chỉ rõ khâu yếu nhất trong chu trình quản lý rác thải của bệnh viện là khâu lưu trữ và xử lý cuối cùng (chôn lấp thủ công). Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp: đầu tư kinh phí mua sắm đồng bộ thùng rác, túi nilon đạt chuẩn màu vàng, đen, xanh; nâng cấp nhà lưu trữ rác có khóa và biển cảnh báo nguy hại; lập dự án xây dựng lò đốt đạt chuẩn QCVN 02:2008/BTNMT hoặc ký hợp đồng với đơn vị có tư cách pháp nhân để vận chuyển, xử lý tập trung; tăng cường tập huấn an toàn lao động cho nhân viên hộ lý và đẩy mạnh tuyên truyền trực quan cho người nhà bệnh nhân.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã cung cấp bộ dữ liệu thực chứng chi tiết về khối lượng và cơ cấu dòng thải y tế tại một bệnh viện đa khoa tuyến huyện thuộc khu vực miền núi phía Bắc. Các số liệu được đo đạc và ghi nhận trực tiếp tại cơ sở:
| Chỉ tiêu đánh giá |
Giá trị định lượng |
Ghi chú / Phạm vi |
| Quy mô giường bệnh |
115 giường |
Bệnh viện hạng III tuyến huyện |
| Tổng nhân lực bệnh viện |
127 cán bộ |
103 biên chế, 24 hợp đồng |
| Lượt khám chữa bệnh năm 2013 |
49.969 lượt |
Dao động từ 3.276 đến 5.012 lượt/tháng |
| Lượng phát sinh rác sinh hoạt |
0,094 kg/giường/ngày |
Toàn viện: 10,81 kg/ngày |
| Lượng phát sinh chất thải y tế |
0,068 kg/giường/ngày |
Toàn viện: 7,82 kg/ngày |
| Lượng phát sinh chất thải nguy hại |
0,038 kg/giường/ngày |
Toàn viện: 4,37 kg/ngày |
| Tổng rác nguy hại phát sinh năm 2013 |
5.226 kg/năm |
Cao nhất tháng 11 (548 kg), thấp nhất tháng 1 (354 kg) |
| Rác nguy hại 3 tháng đầu năm 2014 |
115 kg (tổng 6 khoa) |
Khoa Sản: 30 kg; Khoa Ngoại: 28 kg; Đông y: 7 kg |
| Cơ cấu thành phần rác nguy hại |
Lây nhiễm: 56,96%; Sắc nhọn: 40,04% |
Lây nhiễm: 52 kg; Sắc nhọn: 39,3 kg |
| Quy trình xử lý cuối cùng |
100% chôn lấp thủ công |
Chôn lấp trong khuôn viên bệnh viện |
Các giải pháp và kiến nghị cụ thể do tác giả đề xuất:
- Giải pháp kỹ thuật và cơ sở vật chất: Chuẩn hóa trang thiết bị thu gom theo quy định của Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT (trang bị đầy đủ xô, thùng đạp chân có lót túi màu vàng cho chất thải lây nhiễm, hộp kháng thủng chuyên dụng màu vàng cho chất thải sắc nhọn, túi xanh cho chất thải sinh hoạt). Thay thế việc chôn lấp thủ công bằng giải pháp đầu tư lò đốt chuyên dụng hoặc liên kết chuyển giao chất thải nguy hại cho đơn vị có giấy phép xử lý môi trường. Xây dựng lại khu vực lưu trữ tạm thời đạt yêu cầu cách ly, có mái che, nền bê tông chống thấm và hệ thống thu gom nước rỉ rác.
- Giải pháp quản lý và đào tạo: Tăng cường giám sát quy trình phân loại rác thải ngay tại thời điểm phát sinh từ các buồng bệnh, buồng tiêm và phòng mổ. Định kỳ tổ chức tập huấn kiến thức quản lý chất thải nguy hại, trang bị bảo hộ lao động đạt chuẩn (găng tay dày, ủng, khẩu trang chuyên dụng) cho đội ngũ hộ lý, nhân viên vệ sinh; gắn bảng hướng dẫn phân loại chất thải tại tất cả các hành lang và phòng điều trị nội trú.
Đóng góp của khóa luận:
Tác giả đã chỉ ra khoảng trống giữa quy định pháp luật và thực tế áp dụng tại một bệnh viện vùng cao: dù bệnh viện đã hoàn thiện hồ sơ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại với cơ quan quản lý nhà nước, trên thực tế đơn vị vẫn chưa có phương tiện thu gom đạt chuẩn và phụ thuộc hoàn toàn vào biện pháp chôn lấp tự do trong khuôn viên, tiềm ẩn nguy cơ tác động xấu tới môi trường đất và nguồn nước ngầm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Thời gian khảo sát thực nghiệm ngắn (3 tháng, từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2014) nên số liệu cân đo trực tiếp mới chỉ phản ánh được diễn biến mùa vụ trong giai đoạn hè - thu, chưa bao quát toàn bộ các biến động phát sinh rác thải quanh năm. Phương pháp lấy mẫu phân tích mới dừng lại ở việc cân đo khối lượng vật lý và thống kê phân loại sơ bộ; chưa tiến hành lấy mẫu kiểm nghiệm vi sinh, đo đạc nồng độ kim loại nặng hay đánh giá chất lượng nguồn nước ngầm, đất xung quanh bãi chôn lấp rác thải của bệnh viện. Mẫu điều tra xã hội học còn hạn chế (40 cán bộ y tế và 20 bệnh nhân/người nhà).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng phạm vi quan trắc chất lượng môi trường không khí, đất và nước ngầm tại khu vực chôn lấp của bệnh viện; đánh giá chi tiết tính khả thi về mặt kỹ thuật - kinh tế của phương án đầu tư mô hình xử lý chất thải rắn y tế theo cụm liên huyện đối với các địa bàn vùng cao như tỉnh Yên Bái.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị thực tiễn và tham khảo trực tiếp đối với:
- Sinh viên chuyên ngành Khoa học môi trường, Quản lý môi trường, Kỹ thuật môi trường và Y tế công cộng: Tài liệu cung cấp mẫu đề cương điều tra thực tế, bảng biểu thống kê định lượng rác thải y tế bệnh viện tuyến huyện, phương pháp thiết kế phiếu điều tra nhận thức và khung văn bản pháp quy về chất thải nguy hại tại thời điểm nghiên cứu.
- Cán bộ quản lý môi trường y tế và ban lãnh đạo các cơ sở y tế tuyến huyện: Cung cấp bức tranh thực trạng về những thiếu hụt trang thiết bị, nhân lực và quy trình xử lý rác thải đặc thù ở vùng sâu, vùng xa; từ đó làm căn cứ xây dựng đề án cải tạo hệ thống lưu trữ, mua sắm vật tư phân loại và lập dự toán ngân sách quản lý chất thải rắn hàng năm.
Câu hỏi thường gặp
1. Khối lượng chất thải nguy hại phát sinh tính theo giường bệnh mỗi ngày tại Bệnh viện Đa khoa huyện Lục Yên là bao nhiêu?
Theo kết quả cân đo trực tiếp của đề tài, khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh là 0,038 kg/giường bệnh/ngày (toàn bệnh viện phát sinh 4,37 kg/ngày trên tổng quy mô 115 giường bệnh).
2. Các khoa nào trong bệnh viện phát sinh lượng chất thải nguy hại nhiều nhất?
Trong 3 tháng đầu năm 2014, lượng rác thải nguy hại phát sinh tập trung cao nhất ở Khoa Sản (30 kg) và Khoa Ngoại (28 kg). Ngược lại, Khoa Đông y là nơi có lượng phát sinh ít nhất (7 kg).
3. Cơ cấu thành phần chất thải nguy hại tại bệnh viện gồm những loại nào và tỷ lệ ra sao?
Chất thải nguy hại tại bệnh viện gồm hai nhóm chính: chất thải lây nhiễm chiếm 56,96% (52 kg) và chất thải sắc nhọn chiếm 40,04% (39,3 kg). Bệnh viện không thực hiện phân loại thu gom rác tái chế hay tái sử dụng.
4. Quy trình xử lý chất thải y tế thực tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Lục Yên diễn ra như thế nào?
Quy trình thực tế tại bệnh viện gồm 4 bước cơ bản: Phân loại tại nguồn $\rightarrow$ Thu gom $\rightarrow$ Vận chuyển $\rightarrow$ Chôn lấp. Toàn bộ chất thải được vận chuyển bằng phương tiện thô sơ và đem chôn lấp trực tiếp trong khuôn viên bệnh viện, chưa có hệ thống thiêu đốt hay khử khuẩn nhiệt ướt đạt chuẩn.
5. Khóa luận đã khảo sát nhận thức về quản lý rác thải y tế trên cỡ mẫu bao nhiêu người?
Nghiên cứu tiến hành điều tra phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên đối với 60 đối tượng, bao gồm 40 cán bộ, nhân viên y tế đang công tác tại bệnh viện và 20 bệnh nhân cùng người nhà bệnh nhân đang điều trị nội trú.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Diệp đã phản ánh chân thực hiện trạng phát sinh và chu trình quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái thông qua hệ thống dữ liệu định lượng cụ thể. Đề tài làm rõ những tồn tại cố hữu về hạ tầng thu gom thô sơ, thiếu thiết bị bảo hộ chuyên dụng và phương thức xử lý rác cuối cùng còn hoàn toàn dựa vào chôn lấp thủ công trong khuôn viên. Các kiến nghị được xây dựng sát thực tế địa phương, mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho công tác quản lý môi trường tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện miền núi.