Đặt vấn đề Ngày nay, vấn đề môi trường đang trở nên ngày càng trầm trọng , đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của loài người, nó đang được các quốc gia và cộng đồng thế giới quan tâm. Bởi lẽ ô nhiễm môi trường, sự suy thoái và những sự cố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến không chỉ trước mắt mà còn ảnh hưởng về lâu dài cho các thế hệ mai sau. Toàn thế giới đều nhận thức được rằng: Bảo vệ môi trường, làm cho môi trường phát triển và ngày thêm bên vững là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi quốc gia và cộng đồng quốc tế Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, kinh tế cũng không ngừng phát triển, dẫn đến nhu cầu khám chữa bệnh gia tăng, các cơ sở y tế không ngừng được mở rộng và hoàn thiện. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động hệ thống y tế đặc biệt là các bệnh viện đã thải bỏ ra môi trường một lượng lớn chất thải y tế bao gồm cả những chất thải bỏ nguy hại.
Theo tổ chức y tế thế giới trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10 % là chất thải nhiễm khuẩn và 5% là chất thải gây độc hại như chất phóng xạ , chất gây độc tế bào, các chất độc hại phát sinh từ trong quá trình chuẩn đoán và điều trị đó là những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, lan truyền mầm bệnh đến những vùng xung quanh dẫn tới nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện và gia tăng tỉ lệ bệnh tật của cộng đồng dân cư trong vùng tiếp giáp. Hiện nay chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh vện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môi trường dân cư xung quanh, gây dư luận trong cộng đồng. Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên – tỉnh Yên Bái được hình thành và đang phát triển mạnh mẽ trong những năm qua, đã khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong quá trình phát triển chung của đất nước. Nhờ những nỗ lực phấn đấu không ngừng đó mà bệnh viện đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác khám chữa bệnh, phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho người dân.
Bên cạnh những thành quả đạt được, vấn đề tồn tại hiện nay tại bệnh viện đó là tình trạng Chất Thải rắn Y Tế ( CTRYT ) thải ra với khổi lượng khá lớn, đa phần là chất thải nguy hại mà hệ thống quản lý CTRYT thì còn thiếu sót. Xuất phát từ những mối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm ẩn của chất thải y tế gây ra đối với môi trường và con người, cần có những biện pháp hữu hiệu để nâng n 2 cao nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng về những nguy cơ đó, nâng cao năng lực tổ chức, trách nhiệm và từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý chất thải nguy cũng như nâng cao chất lượng cảnh quan vệ sinh cho bệnh viện. Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả quản lý cụ thể hơn là CTRYT tại bệnh viện Đa Khoa Lục Yên – Yên Bái kết hợp với quá trình giám sát thực tế giúp tìm hiểu những thiếu sót còn tồn tại trong công tác quản lý hiện nay của bệnh viện góp phần làm tăng hiểu biết và nâng cao ý thức cũng như chất lượng điều trị, giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn và giảm rủi ro bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế. Từ đó nâng cao chất lượng quản lý rác thải y tế tại bệnh viện nói riêng và tại các phòng khám tư nhân, các trung tâm ý tế nói chung hỗ trợ tốt hơn cho hệ thống quản chất thải hiện nay của huyện là nhiệm vụ cấp bách hiện nay.
Xuất phát từ thực tiễn trên và được sự nhất trí của Khoa Môi trường, dưới sự hướng dẫn của thầy PGSTS: Nguyễn Ngọc Nông và thầy Ths: Nguyễn Ngọc Sơn Hải. Em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái’’ 1.2 Mục đích và yêu cầu 1.1 Mục đích - Đánh giá hiện trạng thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên. - Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác thu gom và quản lý chất thải rắn tại Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên. - Tạo ra môi trường làm việc tốt hơn cho các nhân viên y tế, nhân viên vệ sinh và bệnh nhân.
- Nâng cao nhận thức và hiểu biết của con người về chất thải nguy hại y tế trong quá trình điều trị và khám chữa bệnh.2 Yêu cầu - Số liệu phải khách quan, trung thực, chính xác. - Phản ánh đầy đủ, đúng đắn được công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên – tỉnh Yên Bái. n 3 - Các chỉ tiêu nghiên cứu nghiên cứu phải đại diện cho khu vực lấy mẫu trên địa bàn nghiên cứu. - Đề xuất những giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở.3 Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Áp dụng các kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế.
- Nâng cao hiểu biết thêm về kiến thức thực tế. - Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường. - Bổ xung tư liệu cho học tập 1.2 Ý nghĩa thực tiễn -Đề tài hoàn thành sẽ giúp mọi người hiểu hơn về điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong những năm gần đây của huyện Lục Yên. - Đánh giá thực trạng chất thải y tế tại Bệnh viện huyện Lục Yên.
- Đánh giá được công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế còn có những mặt hạn chế gì. Từ đó đưa ra được giải pháp cũng như những kiến nghị phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở nhằm cải thiện những thiếu sót còn mắc phải trong công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Lục Yên – Yên Bái. -Kết quả của đề tài sẽ là một trong những căn cứ để tăng cường công tác quản lý, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về môi trường. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 2.1 Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 1.
Chất thải rắn y tế ( CTRYT ) là vật chất ở thể rắn , lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường. Chất thải y tế nguy hại ( CTYTNH ) là chất thải y tế chữa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, hoặc có tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được thiêu hủy an toàn. Quản lý chất thải y tế ( QLCTYT ) là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thug on, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiêu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra giám sát việc thực hiện. Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải các chất thải y tế bao gồm: Giảm lượng chất thải y tế tại nguồn, sẻ dụng các sản phẩm có thể tái chế, tái sử dụng, quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hành và phân loại chất thải chính xác.
Rác sinh hoạt y tế ( RSHYT ) là chất thải không được xếp loại chất thải nguy hại, không có khả năng gây độc, không cần lưu giữ, xử lý đặc biệt, là chất thải phát sinh từ các khu vực bệnh viện như: giấy, plastic, thực phẩm, chai, lọ… 2.2 Nguồn gốc phát sinh - Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù, nếu không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể. - Các chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động chuyên môn, từ các quá trình khám chữa bệnh - Các chất thải sinh hoạt của bệnh nhân, thân nhân người bệnh, cán bộ nhân viên y tế tại bệnh viện - Chất thải từ các hoạt động chung của bệnh viện như lá cây, giấy các loại… 2.3 Thành phần của chất thải rắn y tế - Thành phần vật lý n 5 + Đồ bông vải sợi: gồm bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải… + Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh… + Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm thủy tinh, ống nghiệm… + Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng dụng cụ mổ… + Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc… + Đồ nhựa: hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng hàng… + Rác, lá cây, đất đá… - Thành phần hóa học + Những chất vô cơ: kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, sỏi đá, hóa chất… + Những chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, bộ phận cơ thể, đồ nhựa… + Thành phần gồm các nguyên tố: C, H, O, N, S, Cl và một số phân tro. - Thành phần sinh học: máu, các loại dịch tiết, những động vật làm thí nghiệm, bệnh phẩm và các vi trùng gây bệnh.1: Thành phần rác thải y tế Thành phần chất STT Thành phần rác thải y tế Tỷ lệ (%) nguy hại 1 Các chất hữu cơ 52,9 Không 2 Chai nhựa PVC, PE, PP 10,1 Có 3 Bông băng 8,8 Có 4 Vỏ hộp kim loại 2,9 Không 5 Chai lọ, xilanh, ống thuốc thủy tinh 2,3 Có 6 Kim tiêm, ống tiêm 0,9 Có 7 Giấy loại, catton 0,8 Không 8 Các bệnh phẩm sau mổ 0,6 Có 9 Đất, cát, sành sứ và các chất rắn khác 20,9 Không Tổng cộng 100 Tỷ lệ phần chất thải nguy hại 22,6 ( Nguồn: Quản lý chất thải nguy hại- Nguyễn Đức Khiển ) Theo Nguyễn Đức Khiển, thành phần rác thải y tế gồm 09 loại cơ bản như trên trong đó tỷ lệ CTNH chiếm 22,6%. Tuy chiếm ¼ thành phần nhưng tính chất lại rất nguy hại với môi trường và sức khỏe con người nếu không được thu gom, vận chuyển, xử lý theo quy định.
n 6 Theo kết quả điều tra trong dự án hợp tác giữa Bộ Y tế và tổ chức WHO thành phần một số rác thải ở bệnh viện Việt Nam như sau: Bảng 2.