Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh được xếp vào nhóm chất thải nguy hại do đặc tính truyền nhiễm và độc hại cao, bao gồm bông băng dính dịch máu, mô giải phẫu, vật sắc nhọn, hóa chất và dược phẩm quá hạn. Bên cạnh chất thải rắn, nước thải bệnh viện mang theo lượng lớn vi trùng gây bệnh, tồn dư thuốc kháng sinh và hóa chất sát trùng có khả năng tiêu diệt hệ vi sinh vật có lợi, phá vỡ cân bằng sinh thái nguồn tiếp nhận và làm gia tăng nguy cơ lây truyền các bệnh nguy hiểm như viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) hay HIV. Tại Việt Nam, nhiều cơ sở y tế tuyến huyện và tuyến tỉnh ở khu vực miền núi gặp khó khăn lớn về nguồn lực tài chính và hạ tầng kỹ thuật, dẫn đến việc quản lý, thu gom và xử lý chất thải chưa đồng bộ, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường dân cư lân cận.
Xuất phát từ thực trạng đó, khóa luận tốt nghiệp ngành Khoa học môi trường của tác giả Hoàng Thị Thanh Tuyền (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2015) đã thực hiện nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp xử lý chất thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn và nước thải y tế, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn và nước thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn và nước thải y tế của cán bộ phụ trách môi trường, ban giám đốc và các nhà quản lý tại bệnh viện.
- Đánh giá nhận thức, hiểu biết của cán bộ y tế và bệnh nhân về chất thải nguy hại và nước thải y tế.
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn và nước thải y tế tại cơ sở nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chất thải rắn y tế, nước thải y tế, công tác thu gom, lưu giữ, quản lý và quy trình công nghệ xử lý chất thải tại bệnh viện.
- Phạm vi không gian: Khuôn viên Bệnh viện Đa khoa huyện Nguyên Bình (địa chỉ tại khu Bình Minh, thị trấn Nguyên Bình, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng).
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập tài liệu và khảo sát thực địa từ ngày 16 tháng 8 năm 2014 đến ngày 15 tháng 12 năm 2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập hệ thống khái niệm căn cứ theo Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 và Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế. Chất thải rắn y tế được phân loại thành 5 nhóm chính: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải phóng xạ, bình chứa áp suất và chất thải thông thường. Nước thải bệnh viện được phân tích dựa trên các thông số ô nhiễm chính như nhu cầu oxy sinh học (BOD), nhu cầu oxy hóa học (COD), chất rắn lơ lửng (TSS) và vi khuẩn chỉ thị ô nhiễm phân (Coliform, E.coli).
Nghiên cứu vận dụng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường hiện hành của Việt Nam, bao gồm:
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005; Luật Tài nguyên nước năm 2012.
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải rắn; Nghị định số 63/2012/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ của Bộ Y tế.
- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020.
- Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020.
- QCVN 02:2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế).
- QCVN 28:2010/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế).
- Thông tư số 18/2013/TT-BYT, Thông tư số 31/2013/TT-BYT và Thông tư liên tịch số 63/2013/TTLT-BTC-BTNMT.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp các phương pháp định tính và định lượng:
- Phương pháp kế thừa và thu thập số liệu thứ cấp: Tiếp nhận báo cáo quản lý môi trường, niên giám thống kê năm 2013 của huyện Nguyên Bình; hồ sơ tài liệu từ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Nguyên Bình và Bệnh viện Đa khoa huyện Nguyên Bình; dữ liệu thứ cấp từ Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011.
- Phương pháp điều tra thực địa và thu thập số liệu sơ cấp:
- Đo đạc khối lượng chất thải rắn: Tiến hành cân trực tiếp tại khu vực tập kết rác thải của bệnh viện bằng cân định lượng loại 5 kg và 30 kg; tần suất quan sát 1 tháng/lần vào cuối giờ chiều ngày 20 các tháng 8, 9 và 10 năm 2014 (tổng cộng 3 đợt quan sát).
- Lấy mẫu nước thải: Lấy 2 mẫu nước thải (tại vị trí trước và sau hệ thống xử lý) trong điều kiện thời tiết nắng ráo không mưa, thực hiện 2 lần lấy với thể tích 250 ml/lần mẫu.
- Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện cùng đội ngũ cán bộ trực tiếp phụ trách công tác thu gom, quản lý chất thải rắn tại bệnh viện.
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được tổng hợp và phân tích trên phần mềm máy tính, so sánh đối chiếu với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần mở đầu nêu rõ sự cần thiết của công tác kiểm soát chất thải y tế trong bối cảnh phát triển bền vững. Tác giả chỉ ra tính đặc thù của cơ sở y tế tuyến huyện miền núi khi nguồn kinh phí hoạt động phụ thuộc vào ngân sách và nguồn thu bệnh viện, dẫn đến việc đầu tư cho bảo vệ môi trường còn hạn chế. Chương này xác định các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng, phạm vi khảo sát và nhấn mạnh ý nghĩa khoa học lẫn thực tiễn của đề tài trong việc cải thiện hệ thống quản lý rác thải và nước thải tại địa phương.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tác giả hệ thống hóa các định nghĩa, phân loại chất thải theo quy định của Bộ Y tế và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011 được trích dẫn để phản ánh hiện trạng phát sinh chất thải y tế tại Việt Nam: năm 2010, các đô thị lớn chiếm 60% tổng lượng chất thải cả nước. Suất sinh chất thải y tế nguy hại trung bình tại các bệnh viện tuyến huyện dao động từ 0,17 - 0,22 kg/giường/ngày (năm 2005) tăng lên 0,21 - 0,28 kg/giường/ngày (năm 2010).
| Loại cơ sở y tế |
Suất phát sinh năm 2005 (kg/giường/ngày) |
Suất phát sinh năm 2010 (kg/giường/ngày) |
| Bệnh viện đa khoa Trung ương |
0,35 |
0,42 |
| Bệnh viện chuyên khoa Trung ương |
0,23 - 0,29 |
0,28 - 0,35 |
| Bệnh viện đa khoa tỉnh |
0,29 |
0,35 |
| Bệnh viện chuyên khoa tỉnh |
0,17 - 0,29 |
0,21 - 0,35 |
| Bệnh viện huyện, ngành |
0,17 - 0,22 |
0,21 - 0,28 |
Về nước thải y tế, cả nước có khoảng 13.511 cơ sở y tế với lượng nước thải phát sinh khoảng 125.000 m³/ngày. Trong số các bệnh viện, chỉ có 54,4% có hệ thống xử lý nước thải (tuyến Trung ương đạt 73,5%, tuyến tỉnh đạt 60,3%, tuyến huyện đạt 45,3%); 40,7% không có hệ thống xử lý và 7,0% có hệ thống nhưng không vận hành. Tổng quan cũng phân tích ưu nhược điểm của các công nghệ xử lý rác y tế (lò đốt nhiệt độ cao 1.000°C, tiệt trùng hóa chất, lò hấp, vi sóng, sinh học, bức xạ) và 4 nhóm công nghệ xử lý nước thải y tế theo phân loại của JICA (2006): lắng cơ học, hệ thống hồ cạn/ngập nước, bùn hoạt tính sinh học truyền thống và hệ thống hiếu khí cải tiến.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này mô tả chi tiết đối tượng, địa điểm khảo sát tại Bệnh viện Đa khoa huyện Nguyên Bình; phân kỳ thời gian từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014. Nội dung nghiên cứu bao quát các chỉ tiêu về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội địa phương, cơ sở hạ tầng bệnh viện, hiện trạng thu gom, lưu giữ, phân loại, vận chuyển và công nghệ xử lý chất thải rắn và lỏng. Các quy trình quan trắc khối lượng rác bằng cân định lượng 3 đợt và kỹ thuật lấy mẫu nước thải 2 vị trí (trước và sau xử lý) được cụ thể hóa làm cơ sở thực chứng.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 cung cấp số liệu thực nghiệm toàn diện về địa bàn nghiên cứu và hiện trạng quản lý chất thải tại bệnh viện:
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội huyện Nguyên Bình:
- Tọa độ địa lý: 105°40' kinh độ Đông, từ 22°30' đến 22°50' vĩ độ Bắc. Địa hình đồi núi phức tạp (núi Phia Oắc cao 1.931 m; điểm thấp nhất 100 m). Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 20°C, lượng mưa trung bình 1.200 mm/năm (lớn nhất đạt 2.043,7 mm), lượng bốc hơi 831,6 mm/năm, độ ẩm không khí trung bình 82%.
- Huyện có 18 loại đất, trong đó đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất (Fs) chiếm tỷ lệ lớn nhất với 39.950 ha (47,72%). Dân số toàn huyện năm 2013 là 39.644 người, mật độ trung bình 47 người/km²; bao gồm 7 dân tộc, đông nhất là dân tộc Tày và Nùng (47%), dân tộc Dao (38,7%), dân tộc Kinh (8,6%), dân tộc Mông (5,6%).
- Quy mô và cơ sở hạ tầng Bệnh viện Đa khoa huyện Nguyên Bình:
- Bệnh viện được thành lập từ năm 2003 (tiền thân là Trung tâm y tế huyện quy mô 50 giường), đổi tên năm 2006. Bệnh viện được giao chỉ tiêu 50 giường bệnh với 70 cán bộ biên chế. Thực tế bệnh viện kê thêm 24 giường, nâng tổng số lên 84 giường bệnh. Lượng bệnh nhân điều trị nội trú dao động từ 50 đến 80 người/ngày; số lượt khám bệnh đạt 50 - 100 lượt/ngày.
- Tổng diện tích mặt bằng là 15.685 m², diện tích xây dựng sử dụng là 7.199,5 m². Bệnh viện có máy biến áp riêng 50 kW, mạng lưới đường ống cấp nước ngoài nhà dài 500 m, hệ thống rãnh thoát nước mưa 652 m và đường cống thoát nước thải dài 530 m. Cơ cấu tổ chức gồm Ban giám đốc, Chi ủy, Công đoàn, Đoàn thanh niên và 4 khối chuyên môn: Khối khám bệnh, Khối điều trị nội trú, Khối kỹ thuật và Khối quản lý hành chính.
- Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế:
- Nguồn phát sinh chia thành 5 nhóm: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải nguy hại khác, chất thải rắn thông thường và chất thải tái chế. Lượng chất thải y tế nguy hại chiếm khoảng 10% tổng lượng rác bệnh viện.
- Thành phần rác thải sinh hoạt thông thường được xác định gồm: rác hữu cơ 70%, rác vô cơ 17%, nhựa và chất dẻo 3%, các chất khác 10%; độ ẩm dao động từ 60% đến 69%, các chất rắn khác chiếm 21%.
- Kết quả theo dõi khối lượng chất thải rắn phát sinh thực tế năm 2014:
| Thời điểm theo dõi |
Khối lượng phát sinh (kg/tháng) |
| Tháng 8/2014 |
1.085 |
| Tháng 9/2014 |
1.110 |
| Tháng 10/2014 |
1.178 |
| Giá trị trung bình |
1.124,3 |
Lượng rác tháng 10/2014 đạt cao nhất (1.178 kg) do thời tiết chuyển lạnh, số lượng bệnh nhân nội trú tăng lên.
- Công tác phân loại, thu gom và vận chuyển:
Đội ngũ thực hiện gồm 5 nhân sự (do Điều dưỡng trưởng Hoàng Kim Tuyền phụ trách cùng các nhân viên Nông Thị Liễu, Hà Thị Họp, Đặng Thị Ngần, Lãnh Thị Ngần), được trang bị bảo hộ lao động (ủng, găng tay, khẩu trang, quần áo bảo hộ).
Quy cách phân loại rác tại nguồn tuân thủ bảng hướng dẫn:
| Loại chất thải |
Quy cách bao bì và mã màu |
| Vật sắc nhọn |
Bỏ vào hộp cứng hoặc hộp kháng thủng màu vàng, dán nhãn "VẬT SẮC NHỌN" |
| Rác lây nhiễm không sắc nhọn và lây nhiễm cao |
Đựng trong túi nhựa PE/PP màu vàng, dán nhãn "Nguy hại sinh học" |
| Rác thải hóa chất và dược phẩm |
Đựng trong túi nilon màu đen |
| Rác thải sinh hoạt |
Đựng trong túi nilon màu xanh |
| Rác thải tái chế |
Đựng trong túi nilon màu trắng |
| Quy định đóng gói |
Không bỏ rác quá 3/4 thể tích túi nilon vàng; túi dùng 1 lần, không rò rỉ |
Khu tập kết rác sinh hoạt được rào lưới B40; bệnh viện ký hợp đồng với Công ty Môi trường đô thị huyện Nguyên Bình vận chuyển đi chôn lấp hợp vệ sinh định kỳ vào các ngày thứ 2, thứ 4 và thứ 6 hàng tuần. Chất thải nguy hại được đưa về nhà chứa rác có diện tích 24 m² và xử lý bằng lò đốt chuyên dụng hoặc thuê cơ sở có chức năng xử lý theo quy định.
- Đề xuất các giải pháp:
- Đối với chất thải rắn: Tăng cường hệ thống quản lý môi trường nội bộ, phân định trách nhiệm kiểm tra giám sát, tổ chức đào tạo nâng cao nhận thức cho nhân viên y tế và bệnh nhân, nâng cấp cơ sở hạ tầng khu lưu giữ và lò đốt chất thải nguy hại.
- Đối với nước thải: Áp dụng đồng bộ các giải pháp quản lý nguồn phát sinh, biện pháp lý hóa học (lắng tách cặn, khử trùng) và cải tạo hệ thống xử lý sinh học nước thải trước khi xả ra môi trường.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tác giả tổng kết các kết quả đạt được về lượng chất thải, đánh giá việc chấp hành quy chế quản lý chất thải y tế tại bệnh viện, đồng thời kiến nghị Sở Y tế và Ủy ban nhân dân huyện Nguyên Bình đầu tư kinh phí nâng cấp trạm xử lý nước thải và hoàn thiện quy trình kiểm soát ô nhiễm không khí từ lò đốt rác.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng cụ thể phản ánh hoạt động thực tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Nguyên Bình:
- Xác định lượng chất thải rắn phát sinh trung bình tại bệnh viện đạt 1.124,3 kg/tháng (biến thiên từ 1.085 kg đến 1.178 kg/tháng trong giai đoạn quan sát tháng 8 - 10/2014).
- Phân tích thành phần rác thải sinh hoạt cho thấy rác hữu cơ chiếm tỷ lệ áp đảo (70%), lượng rác vô cơ chiếm 17%, nhựa và chất dẻo chiếm 3%, độ ẩm rác cao (60 - 69%). Chất thải y tế nguy hại chiếm khoảng 10% tổng lượng rác phát sinh.
- Làm rõ cơ cấu thu gom chất thải rắn: bệnh viện đã bố trí 5 nhân viên vệ sinh chuyên trách, thực hiện phân loại theo hệ thống mã màu (vàng, đen, xanh, trắng), có khu lưu giữ rác sinh hoạt rào lưới B40 và vận chuyển chôn lấp với tần suất 3 lần/tuần (thứ 2, 4, 6) thông qua công ty môi trường đô thị.
- Khóa luận đóng góp hệ thống dữ liệu thực địa cập nhật năm 2014 về hiện trạng môi trường tại một bệnh viện vùng cao có quy mô giường bệnh thực kê vượt chỉ tiêu (84/50 giường), đóng vai trò làm tài liệu tham chiếu thực tế cho công tác quản trị môi trường y tế địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Thời gian khảo sát thực tế tương đối ngắn (từ 16/8/2014 đến 15/12/2014), khối lượng chất thải rắn sơ cấp mới chỉ được theo dõi trong 3 đợt (mỗi tháng cân 1 ngày vào ngày 20) nên chưa phản ánh được biến động đầy đủ theo chu kỳ bốn mùa trong năm.
- Số lượng mẫu phân tích nước thải còn ít (chỉ lấy 2 mẫu tại 2 vị trí trước và sau xử lý trong một đợt nắng ráo), chưa bao quát được biến động nồng độ ô nhiễm theo các khung giờ phát thải cao điểm trong ngày.
- Bản khóa luận hạn chế về kinh nghiệm nghiên cứu ban đầu của sinh viên và điều kiện thiết bị phân tích tại hiện trường.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quan trắc liên tục chuỗi số liệu phát sinh chất thải rắn theo tuần và các mùa khác nhau trong năm.
- Tăng cường số lượng mẫu và tần suất quan trắc nước thải y tế, phân tích đầy đủ các chỉ tiêu vi sinh và kim loại nặng theo QCVN 28:2010/BTNMT.
- Đánh giá chi tiết hiệu suất xử lý và đo đạc các chỉ tiêu khí thải lò đốt theo QCVN 02:2008/BTNMT.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên chuyên ngành Khoa học môi trường, Quản lý môi trường, Kỹ thuật môi trường và Y tế công cộng đang thực hiện đồ án, khóa luận tốt nghiệp về đề tài quản lý chất thải bệnh viện.
- Cán bộ kỹ thuật môi trường, cán bộ y tế phụ trách công tác kiểm soát nhiễm khuẩn và ban giám đốc các bệnh viện đa khoa tuyến huyện khu vực miền núi.
- Các phần nội dung có giá trị tham chiếu cao nhất gồm: quy trình lập bảng danh mục mã màu phân loại chất thải theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT, phương pháp tổ chức thu gom thực địa và số liệu cơ sở về suất sinh rác thải sinh hoạt, rác lây nhiễm tại bệnh viện quy mô 50 - 84 giường bệnh.
Câu hỏi thường gặp
-
Bệnh viện Đa khoa huyện Nguyên Bình có quy mô giường bệnh và nhân sự như thế nào trong thời gian nghiên cứu?
Theo tài liệu, bệnh viện được giao chỉ tiêu 50 giường bệnh với 70 cán bộ biên chế. Do nhu cầu khám chữa bệnh, bệnh viện đã kê thêm 24 giường, nâng quy mô thực tế lên 84 giường. Số lượng bệnh nhân điều trị nội trú trung bình từ 50 đến 80 người/ngày; lượng khám bệnh đạt từ 50 đến 100 lượt/ngày.
-
Khối lượng chất thải rắn phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa huyện Nguyên Bình là bao nhiêu?
Khối lượng chất thải rắn phát sinh được đo đạc trong 3 tháng năm 2014 đạt trung bình 1.124,3 kg/tháng. Trong đó, tháng 8 đạt 1.085 kg, tháng 9 đạt 1.110 kg và tháng 10 đạt cao nhất với 1.178 kg (do thời tiết chuyển lạnh, lượng bệnh nhân điều trị nội trú gia tăng).
-
Thành phần rác thải sinh hoạt tại bệnh viện gồm những chất nào và tỷ lệ ra sao?
Thành phần rác thải sinh hoạt gồm: rác hữu cơ chiếm 70%, rác vô cơ chiếm 17%, các chất khác chiếm 10%, nhựa và chất dẻo chiếm 3%. Độ ẩm của rác dao động từ 60% đến 69%, phần chất rắn khác chiếm 21%.
-
Quy định sử dụng màu sắc bao bì thu gom rác thải tại bệnh viện được phân chia như thế nào?
Bệnh viện phân loại rác bằng các mã màu: hộp cứng hoặc túi nhựa màu vàng dùng cho vật sắc nhọn và rác lây nhiễm; túi màu đen dùng cho rác thải hóa chất và dược phẩm; túi màu xanh chứa rác thải sinh hoạt thông thường; túi màu trắng dùng cho rác thải tái chế. Túi đóng gói chỉ chứa rác đến không quá 3/4 thể tích.
-
Đội ngũ trực tiếp thu gom rác tại bệnh viện gồm bao nhiêu người và quy trình xử lý rác sinh hoạt diễn ra như thế nào?
Đội ngũ thu gom chất thải rắn của bệnh viện gồm 5 nhân sự (Điều dưỡng trưởng Hoàng Kim Tuyền cùng các nhân viên Nông Thị Liễu, Hà Thị Họp, Đặng Thị Ngần, Lãnh Thị Ngần). Rác sinh hoạt sau phân loại được tập kết tại khu vực rào lưới B40 và được Công ty Môi trường đô thị huyện Nguyên Bình thu gom vận chuyển đi chôn lấp định kỳ vào thứ 2, thứ 4 và thứ 6 hàng tuần.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Thanh Tuyền đã phản ánh chi tiết thực trạng công tác quản lý chất thải rắn và nước thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng trong năm 2014. Nghiên cứu xác lập các thông số định lượng cụ thể về lưu lượng phát sinh chất thải rắn (1.124,3 kg/tháng), thành phần rác thải, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và quy trình phân loại rác tại nguồn của cơ sở y tế tuyến huyện miền núi. Các giải pháp quản lý và kỹ thuật được đề xuất bám sát điều kiện cơ sở vật chất thực tế, cung cấp tài liệu phục vụ việc cải thiện công tác kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường y tế tại địa phương.