Chương 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm về chất thải y tế Chất thải y tế (CTYT) là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại (CTYTNH), CTYT thông thường và nước thải y tế [5]. Chất thải y tế nguy hại (CTYTNH) là CTYT chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm [5]. Quản lý chất thải y tế (QLCTYT) là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý CTYT và giám sát quá trình thực hiện [5].
Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý CTYT trong khuôn viên cơ sở y tế [5]. Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở CTYT từ nơi lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý CTYT cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý CTYT nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý CTYT [5]. Phân loại chất thải y tế Phân loại chất thải y tế tại Việt Nam Theo thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT - BTNMT quy định về quản lý CTYT thì CTYT bao gồm 3 nhóm là: Chất thải lây nhiễm, chất thải nguy hại không lây nhiễm và chất thải thông thường [5]. Luan van 4 Chất thải lây nhiễm: Chất thải lây nhiễm là loại chất thải chứa các mầm bệnh (vi khuẩn, virus, kí sinh trùng hoặc nấm) có khả năng gây bệnh cho con người [5].
Chất thải lây nhiễm được phân thành 4 loại, bao gồm: Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: Kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắc nhọn của dây truyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh; cưa dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác. Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính, chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể, các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly. Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định số 92/2010. NĐ - CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm; Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm.
Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm: Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại; Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản suất. Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng, Luan van 5 Chất hàn răng amalgam thải bỏ. Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT – BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại [5]. Chất thải y tế thông thường bao gồm: Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế.
Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc danh mục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại [5]. Kiến thức, thực hành và thực trạng quản lý CTRYT trên thế giới và tại Việt Nam 1. Trên thế giới * Kiến thức về quản lý CTRYT Một nghiên cứu tại Ấn độ năm 2005 cho thấy: Kiến thức đúng của bác sỹ là 61 %, điều dưỡng là 57 % [7]. Kết quả nghiên cứu của Viện chăm sóc sức khỏe Johannesburg Nam Phi năm 2009 cho thấy: Kiến thức đạt 98,5 % [8].
Nghiên cứu tại một bệnh viện đại học y tế Bangalore cho thấy: Kiến thức chung đạt là 95,8 %, trong đó kiến thức của bác sỹ 76,8 % và y tá 81,9 % [9]. Một nghiên cứu khác ở hai vùng phía Nam và phía Đông Ấn Độ năm 2014 cho thấy 41,7 % CBYT có kiến thức đạt về thu gom CTYT để đảm bảo sức khoẻ, ngăn ngừa lây nhiễm cho cộng đồng. Nghiên cứu phân tích sâu về kiến thức của CBYT đối với thu gom rác thải [10]. * Thực hành về quản lý CTRYT Một nghiên cứu tại Ấn độ năm 2005 cho thấy: Thực hành đúng của bác sỹ là 77 %, điều dưỡng là 100 %, [7].
Luan van 6 Kết quả nghiên cứu tại Viện chăm sóc sức khỏe Johannesburg Nam Phi năm 2009 cho thấy: Thực hành tốt đạt 95 % [8]. Nghiên cứu kiếntại một bệnh viện Đại học y tế Bangalore năm 2012 cho thấy: Nhận thức đạt của bác sỹ 76,8 %, của y tá 81,9 %, nhận thức chung đạt là 95,8 % [9]. Một nghiên cứu khác ở hai vùng phía Nam và phía Đông Ấn Độ năm 2014 cho thấy: Ở khu vực phía nam và phía đông CBYT có thực hành đạt về thu gom CTYT lần lượt là 58,3 % và 58,9 % [10]. Với một nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học Cairo năm 2014 cho thấy tỷ lệ thực hành đạt của: Y tá là 84 %, bác sỹ là 63 % [11].
* Thực trạng về quản lý CTRYT Trên thế giới, công tác quản lý CTYT được nhiều quốc gia quan tâm và tiến hành một cách triệt để, họ có một loạt những chính sách quy định về quản lý CTYT đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ việc quản lý CTYT. Cụ thể có các hiệp ước quốc tế, các quy định về quản lý chất thải, đa số các chất thải đều là loại chất thải nguy hại, trong đó có cả CTRYT cũng được hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận CTRYT có nguy cơ tiềm ẩn có thể gây hại tới môi trường và con người. Số lượng CTYT phát sinh phụ thuộc vào mức thu nhập của quốc gia các nước thu nhập trung bình và thấp có lượng CTYT phát sinh thấp hơn nhiều so với các nước thu nhập cao [34]. Theo thống kê, một giường bệnh phát sinh 10kg chất thải mỗi ngày ở một bệnh viện tại nước có thu nhập cao [35].
CTYT phát sinh ở các quốc gia có thu nhập cao thì tổng lượng CTYT hàng năm từ 1,1- 12 kg/ người/ năm, trong đó lượng chất thải nguy hại là từ 0,4- 5,5 kg/ người/ năm, các nước có thu nhập trung bình thì tổng lượng CTYT hàng năm từ 0,8- 6 kg/ người/ năm, trong đó lượng chất thải nguy hại là từ 0,3- 0,4 kg/ người/ năm và các nước có thu nhập thấp thì có lượng CTYT hàng năm từ 0,5- 3 kg/ người/ năm [36]. Luan van 7 Theo ước tính của WHO, trung bình mỗi ngày mỗi giường bệnh phát sinh 0,5kg chất thải nguy hại, ở các nước thu nhập thấp thì con số thống kê thấp hơn nhiều, trung bình khoảng 0,2kg/giường/ngày [37]. Lượng CTYT phát sinh một giường bệnh mỗi ngày tại Bắc Mỹ từ 7-10kg, Tây Âu là 3- 6kg, Trung Đông từ 1,3-3kg,Mỹ Latin từ 3kg, Ấn Độ là 1-2kg, Đông Âu là 1,4- 2kg, Đông Á 2,5-4kg ở nước thu nhập cao và 1,8- 2,2kg ở nước thu nhập trung bình [36];[38]. Theo kết quả điều tra tại 44 bệnh viện công và 15 bệnh viện chuyên khoa tại Iran cho thấy: Khối lượng chất thải rắn phát sinh trên một giường bệnh một ngày là 3,16kg/giường/ngày tại bệnh viện công và 3,7kg/giường/ngày tại bệnh viện chuyên khoa.
Tỷ lệ các loại chất thải rắn tại bệnh viện công là 56 % chất thải chung, 42 % CTYT, 25 % chất thải sắc nhọn; ở bệnh viện chuyên khoa là 63 % chất thải chung, 36 % CTYT. Nghiên cứu cũng chỉ ra các vấn đề về quản lý CTYT tại đây, tình trạng phân loại chất thải rất kém, các loại CTYTNH được phân loại và xử lý với chất thải thông thường [39]. Tại Việt Nam * Kiến thức về quản lý CTRYT Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa Đồng Tháp năm 2015 cho thấy: Tỷ lệ CBYT đạt kiến thức về quản lý CTRYT và kiến thức thu gom có tỷ lệ lần lượt là 47,8 % và 49,7 %, đạt kiến thức về phân loại chất thải và mã màu dụng cụ đựng chất thải là 96,1 % [12]. Một nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi đồng II năm 2008 do Khúc Thị Kim Nguyệt và cộng sự cho thấy: Kiến thức chung đạt 79,5 % [13].
Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh năm 2011cho thấy: Kiến thức chung đạt về quản lý CTRYT 86,6 % [14];[32]. Luan van 8 Nghiên cứu tại 10 bệnh viện khu vực phía bắcnăm 2012 cho thấy: CBYT có kiến thức về quản lý CTRYT đạt chiếm 79,4 %, trong đó tỷ lệ kiến thức đạt ở bác sỹ và điều dưỡng lần lượt là 82,4 % và 76,8 % [15]. Một nghiên cứu tại bệnh viện II Lâm Đồng năm 2013 cho thấy: Kiến thức về quản lý CTRYT của điều dưỡng và hộ lý đạt lần lượt là 99,4 % và 97,4 % [16]. Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa thành phố Vinh cho thấy: CBYT có kiến thức phân loại CTRYT đạt 61 % [17].
Theo nghiên cứu tại bệnh viện tim Hà Nội năm 2016 cho thấy: có 89,5 % CBYT có kiến thức về quản lý CTRYT đạt 81,5 % [18]. * Thực hành về quản lý CTRYT Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa Đồng Tháp năm 2015 cho thấy: Các chất thải được phân loại ngay tại nguồn phát sinh tỷ lệ CBYT các khoa thực hành phân loại đạt 65% [12]. Một nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi đồng II năm 2008 cho thấy: Tỷ lệ CBYT thực hành quản lý CTRYT đạt 82,9 % [13]. Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh năm 2011cho thấy: Tỷ lệ CBYT có thực hành đạt về phân loại chất thải đạt 82,4 % [14]; [32].
Nghiên cứu tại 10 bệnh viện khu vực phía Bắc năm 2012 cho thấy: Tỷ lệ CBYT có thực hành về quản lý CTRYT đạt là 71,9 %, trong đó tỷ lệ đạt thực hành tốt ở bác sỹ và điều dưỡng lần lượt là 76,8 % và 67,8 % [15].