Chương 1: Tổng quan chất thải y tế. Chương 2: Hiện trạng quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Đa khoa Hải Dương. Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hiện trạng quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Đa khoa Hải Dương. Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Sinh viên: Mạc Thị Ngọc Hà Lớp: MT1201 2 Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Đa khoa Hải Dương CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.
Định nghĩa chất thải y tế. Định nghĩa chất thải y tế Theo quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế: “chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo. Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng, và dạng khí”. Định nghĩa chất thải y tế nguy hại “Chất thải y tế nguy hại là chất thải có một trong các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan của người, động vật, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn; dược phẩm; hóa chất và các chất phóng xạ dùng trong y tế.
Nếu những chất thải này không được tiêu hủy sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người. Phân loại chất thải y tế. Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau: 1. Chất thải lâm sàng.
Chất thải phóng xạ. Chất thải hóa học. Các bình chứa khí có áp suất. Chất thải sinh hoạt.
Chất thải lâm sàng. [1] Chất thải lâm sàng gồm 5 nhóm: Nhóm A: là chất thải nhiễm khuẩn, bao gồm: những vật liệu bị thấm máu, thấm dịch, các chất bài tiết của người bệnh như băng, gạc, bông, găng tay, bột bó, đồ vải, các túi hậu môn nhân tạo, dây truyền máu, các ống thông, dây và túi dịch dẫn lưu … Hình 1.1- Chất thải nhiễm khuẩn Sinh viên: Mạc Thị Ngọc Hà Lớp: MT1201 3 Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Đa khoa Hải Dương Nhóm B: là các vật sắc nhọn, bao gồm: bơm tiêm, kim tiêm, lưỡi và cán dao mổ, cưa các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và mọi loại vật liệu có thể gây ra các vết cắn hoặc chọc thủng, cho dù chúng có thể nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn.2- Bơm kim tiêm Nhóm C: là chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét nghiệm, bao gồm: găng tay, lam kính, ống nghiệm, túi đựng máu, bệnh phẩm sau khi sinh thiết/ xét nghiệm/ nuôi cấy… Nhóm D: là chất thải dược phẩm bao gồm: - Dược phẩm quá hạn, dược phẩm bị nhiễm khuẩn, dược phẩm bị đổ, dược phẩm không còn nhu cầu sử dụng. - Thuốc gây độc tế bào là các thuốc chống ung thư hoặc các thuốc hóa trị liệu ung thư. Thuốc có khả năng phá hủy hoặc ngừng sự tăng trưởng của các tế bào sống.3- Chất thải dược phẩm Nhóm E: là các mô cơ quan người - động vật, bao gồm: tất cả các mô của cơ thể (dù nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn); các cơ quan, chân tay, rau thai, bào thai, xác xúc vật thí nghiệm.
Chất thải phóng xạ.[1] Nhóm chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, hóa trị liệu và nghiên cứu như ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm, gạc sát khuẩn có sử dụng hoặc bị nhiễm các đồng vị phóng xạ. Chất thải phóng xạ rắn gồm: các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chẩn đoán điều trị như ống tiêm, bơm tiêm, kính bảo hộ, giấy thấm, gạc vi khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ… Sinh viên: Mạc Thị Ngọc Hà Lớp: MT1201 4 Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Đa khoa Hải Dương Chất thải phóng xạ lỏng gồm: dung dịch có chứa nhân phóng xạ phát sinh trong quá trình chẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết nước xúc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ… Chất phóng xạ khí gồm: các chất khí dùng trong lâm sàng như 133Xe, các khí thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ.4 Các hạt nhân phóng xạ sử dụng trong các cơ sở y tế.[2] Hạt nhân Thời gian bán Các hạt phóng xạ Ứng dụng nguyên tử phân rã 3 H Hạt beta 12,3 năm Nghiên cứu 14 C Hạt beta 5730 năm Nghiên cứu 32 P Hạt beta 14,3 ngày Trị liệu 51 Cr Tia gamma 27,8 ngày Chẩn đoán in vitro 57 Co Hạt beta 270 ngày Chẩn đoán in vitro 59 Fe Hạt beta 45,5 ngày Chẩn đoán in vitro 67 Ga Tia gamma 72 giờ Chẩn đoán hình ảnh 75 Se Tia gamma 120 ngày Chẩn đoán hình ảnh 99m Tc Tia gamma 6 giờ Chẩn đoán hình ảnh 123 I Tia gamma 13 giờ Chẩn đoán hình ảnh 125 I Tia gamma 60 ngày Chẩn đoán hình ảnh 131 I Hạt beta 8 ngày Trị liệu, nghiên cứu 133 Xe Hạt beta 5,3 ngày Chẩn đoán hình ảnh 1. Các bình chứa khí có áp suất. [1] Các bình chứa khí có áp suất như bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung và các bình đựng khí dùng một lần.
Các bình này dễ gây cháy nổ khi thiêu đốt vì vậy cần thu gom riêng.5: Bình áp suất Sinh viên: Mạc Thị Ngọc Hà Lớp: MT1201 5 Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Đa khoa Hải Dương 1. Chất thải hóa học. [1] Chất thải hóa học phát sinh từ các nguồn khác nhau trong các hoạt động của các cơ sở y tế nhưng chủ yếu là từ các phòng xét nghiệm và các hoạt động liên quan như xét nghiệm, vệ sinh, khử khuẩn. Chất thải hóa học có thể ở dạng rắn, lỏng, khí.
Các chất thải hóa học có thể gây ra hàng loạt các nguy hại trong quá trình tiêu hủy dưới dạng đơn chất hoặc kết hợp với các chất hóa học khác, vì vậy chúng được phân loại thành hai loại là: chất thải hóa học nguy hại và chất thải hóa học không nguy hại. Chất thải hóa học không gây nguy hại như đường, axit béo, một số muối vô cơ và hữu cơ. Chất thải hóa học nguy hại bao gồm: formaldehyde, các hóa chất quang hóa, các dung môi, oxit ethylene, các chất hóa học hỗn hợp,… 1. Chất thải sinh hoạt.
[1] - Chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại, phát sinh từ các buồng bệnh, phòng làm việc, hành lang, các bộ phận cung ứng, nhà kho, nhà giặt, nhà ăn…bao gồm: giấy báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng carton, túi nilon, túi đựng phim, vật liệu gói thực phẩm, thức ăn dư thừa của người bệnh, hoa và chất thải quét dọn từ các sàn nhà.6-Rác thải sinh hoạt - Chất thải ngoại cảnh: lá cây, và chất thải từ các khu vực ngoại cảnh. Nguồn phát sinh. Các hoạt động của bệnh viện rất đa dạng và phong phú. Từ hoạt động khám chữa bệnh , xét nghiệm, điều trị, cấp phát thuốc đến nuôi dưỡng, tất cả các hoạt động này đều phát sinh chất thải và các mầm bệnh gây ô nhiễm môi trường.
Để quản lý chất thải bệnh viện hiệu quả cần biết rõ nguồn gốc phát sinh chất thải. Cần xác định lượng và loại chất thải phát sinh từ mỗi nguồn để phân bổ chi phí, đưa ra phương pháp thu gom, phân loại ngay từ nguồn một cách hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao hiệu quả và giảm chi phí xử lý chất thải bệnh viện. Dưới đây là sơ đồ nguồn phát sinh chất thải bệnh viện: Sinh viên: Mạc Thị Ngọc Hà Lớp: MT1201 6 Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Đa khoa Hải Dương Buồng tiêm Phòng bệnh nhân không lây lan (A, B) Phòng mổ Phòng bệnh nhân truyền nhiễm (A, B, E) Phòng xét Khu bào chế dược nghiệm và chụp rửa phim (C, D) ( B, C) Khu vực hành Phòng cấp cứu chính (A, B, E ) Đƣờng thải chung Chất thải hóa học Chất thải sinh hoạt Bình áp suất Chất thải lâm sàng Chất thải phóng xạ (A, B, C, D, E): Các nhóm chất thải lâm sàng Hình 1.7: Nguồn phát sinh ra chất thải bệnh viện.4 Tính chất của chất thải y tế.1 Tính chất vật lý. Thành phần vật lý: - Đồ bông vải sợi: gồm băng gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải… - Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh… - Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bông tiêm, thủy tinh, ống nghiệm… - Đồ nhựa, hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng… - Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng… - Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc… - Rác rưởi, lá cây, đất đá… Sinh viên: Mạc Thị Ngọc Hà Lớp: MT1201 7 Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Đa khoa Hải Dương Theo kết quả phân tích của cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) thành phần chất thải thông thường và chất thải nhiễm khuẩn được trình bày như sau: Thành phần chất thải thông thường (rác sinh hoạt y tế): - Giấy và các loại giấy thấm: 60% - Plastic: 20% - Thực phẩm thừa: 10% - Kim loại thủy tinh và các hợp chất vô cơ: 7% - Các loại hỗn hợp khác: 3% Thành phần của chất thải nhiễm khuẩn là: - Giấy và quần áo: 50-70% - Plastic: 20-60% - Chất dịch: 1-10% Kết quả khảo sát trên 80 bệnh viện trên phạm vi cả nước cho thấy thành phần chất thải y tế như sau: Bảng 1.8: Thành phần rác thải bệnh viện trung bình ở Việt Nam.
STT Thành phần Tỷ lệ (%) 1 Giấy và các loại carton 2,9 2 Kim loại, vỏ hộp 0,7 3 Đồ thủy tinh và đồ nhựa 3,2 4 Bông băng, bó bột… 8,8 5 Túi nhựa các loại: PE, PP, PVC 10,1 6 Bệnh phẩm 0,6 7 Rác hữu cơ 52,7 8 Các vật sắt nhọn 0,4 9 Các loại khác 20,6 (Nguồn: Báo cáo hội thảo quản lý chất thải y tế Hà Nội, 1998) Sinh viên: Mạc Thị Ngọc Hà Lớp: MT1201 8 Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Đa khoa Hải Dương 1.