Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cùng với sự gia tăng dân số và tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày càng tăng cao, dẫn đến sự mở rộng nhanh chóng của mạng lưới cơ sở y tế trên toàn quốc. Các hoạt động chuyên môn y tế như khám bệnh, điều trị, phẫu thuật, xét nghiệm, chăm sóc và nghiên cứu phát sinh một khối lượng lớn chất thải dưới các dạng rắn, lỏng và khí. Chất thải y tế mang tính chất phức tạp, chứa nhiều thành phần nguy hại, hóa chất độc hại, dược phẩm tồn dư, vật sắc nhọn và nồng độ mầm bệnh truyền nhiễm cao, đe dọa trực tiếp đến môi trường sống cũng như sức khỏe của nhân viên y tế và cộng đồng dân cư xung quanh.
Mặc dù các văn bản quy định về quản lý chất thải bệnh viện tại Việt Nam đã bắt đầu được ban hành từ năm 1997, thực tế thống kê cho thấy trong số 1.087 bệnh viện tuyến huyện trở lên trên cả nước thời điểm đó, phần lớn các cơ sở vẫn chưa đảm bảo việc quản lý và xử lý chất thải đạt chuẩn theo quy định. Tình trạng phân loại không triệt để, thiết bị thiêu đốt lạc hậu, xử lý nước thải không đạt quy chuẩn và thiếu kinh phí vận hành đang là vấn đề môi trường bức thiết tại nhiều địa phương.
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương là cơ sở y tế tiếp nhận và điều trị bệnh nhân lớn nhất trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Sau nhiều giai đoạn cải tạo và nâng cấp, từ tháng 8 năm 2009, bệnh viện đưa vào vận hành cơ sở mới với quy mô 700 giường bệnh hạng I, mỗi ngày tiếp đón hơn 700 lượt người đến khám và chữa bệnh. Khối lượng chất thải y tế phát sinh tại đây có xu hướng tăng nhanh. Mặc dù công tác quản lý chất thải đã được thiết lập, quá trình triển khai thực tế vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập và hạn chế về kỹ thuật cũng như tổ chức vận hành.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể theo đề cương giao việc:
- Tìm hiểu và đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải (bao gồm chất thải rắn y tế, chất thải rắn sinh hoạt và nước thải) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương.
- Đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm khắc phục những tồn tại, yếu kém và nâng cao hiệu quả quản lý môi trường tại bệnh viện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quản lý, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và các công trình xử lý chất thải rắn y tế, chất thải rắn sinh hoạt và nước thải tại cơ sở.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ khuôn viên, 45 khoa, phòng, bộ phận chức năng và các khu xử lý chất thải tập trung thuộc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát, thu thập dữ liệu thứ cấp về khối lượng phát sinh và xử lý chất thải trong giai đoạn năm 2010, năm 2011 và 4 tháng đầu năm 2012; dữ liệu phân tích chất lượng nước thải thu thập theo đợt quan trắc ngày 14 tháng 8 năm 2011; thời gian thực hiện khóa luận từ ngày 02 tháng 4 năm 2012 đến ngày 10 tháng 7 năm 2012.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập cơ sở lý thuyết dựa trên các định nghĩa, quy chế chuyên ngành và quy chuẩn kỹ thuật môi trường hiện hành của Việt Nam kết hợp các nguyên tắc quản lý chất thải quốc tế:
- Khung văn bản quy phạm: Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế; Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y tế về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế; Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6772-2000 (Chất lượng nước - Nước thải bệnh viện - Tiêu chuẩn thải Mức I).
- Khung lý thuyết quốc tế: Công ước Basel năm 1989 về kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới chất thải nguy hại và việc tiêu hủy chúng (Việt Nam tham gia ngày 13/3/1995); Nguyên tắc Người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle - 1990); Nguyên tắc Xử lý gần nguồn phát sinh (Proximity Principle).
- Khái niệm và phân loại kỹ thuật: Định nghĩa chất thải y tế, chất thải y tế nguy hại; hệ thống phân loại 5 nhóm chất thải y tế (chất thải lâm sàng gồm nhóm A, B, C, D, E; chất thải phóng xạ; chất thải hóa học; bình chứa khí áp suất; chất thải sinh hoạt).
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Quan sát trực tiếp quy trình thu gom, lưu giữ, vận hành thiết bị lò đốt và trạm xử lý nước thải tại các khoa, phòng và khu kỹ thuật của bệnh viện.
- Phương pháp thu thập và thống kê số liệu: Thu thập số liệu thứ cấp từ sổ sách theo dõi quản lý chất thải rắn y tế, chất thải sinh hoạt và nhật ký vận hành lò đốt của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương trong các năm 2010 - 2012; tổng hợp tài liệu quản lý y tế từ Sở Y tế Hải Dương và các báo cáo hội thảo môi trường ngành y tế.
- Phương pháp phân tích, so sánh và đánh giá: So sánh các thông số vật lý, hóa học, sinh học của chất thải rắn và nước thải bệnh viện với các tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường bắt buộc (TCVN 6772-2000 Mức I); đối chiếu quy trình quản lý thực tế với Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT để xác định các sai lệch kỹ thuật.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp qua quan sát hiện trường; số liệu thứ cấp do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương cung cấp tháng 4/2012; kết quả phân tích mẫu nước thải ngày 14/08/2011; các báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) và các tài liệu hội thảo trong nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về chất thải y tế
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về định nghĩa, nguồn phát sinh, phân loại, đặc tính kỹ thuật, tác động môi trường và các công nghệ xử lý chất thải y tế trên thế giới cũng như tại Việt Nam.
Chất thải trong cơ sở y tế được phân loại thành 5 nhóm lớn:
- Chất thải lâm sàng: Bao gồm Nhóm A (chất thải lây nhiễm, thấm máu, dịch sinh học như bông, băng, gạc, găng tay); Nhóm B (vật sắc nhọn như kim tiêm, lưỡi dao mổ, mảnh thủy tinh vỡ); Nhóm C (chất thải nguy cơ lây nhiễm cao từ phòng xét nghiệm); Nhóm D (dược phẩm quá hạn, thuốc gây độc tế bào cytotoxic); Nhóm E (mô, bộ phận cơ thể người và xác động vật thí nghiệm).
- Chất thải phóng xạ: Dạng rắn, lỏng, khí phát sinh từ chẩn đoán và xạ trị (chứa các đồng vị phóng xạ như $^3\text{H}$, $^{14}\text{C}$, $^{32}\text{P}$, $^{51}\text{Cr}$, $^{57}\text{Co}$, $^{59}\text{Fe}$, $^{67}\text{Ga}$, $^{75}\text{Se}$, $^{99m}\text{Tc}$, $^{123}\text{I}$, $^{125}\text{I}$, $^{131}\text{I}$, $^{133}\text{Xe}$).
- Bình chứa khí có áp suất: Bình chứa $\text{O}_2$, $\text{CO}_2$, bình gas, bình khí dung dễ gây cháy nổ khi thiêu đốt.
- Chất thải hóa học: Bao gồm chất không nguy hại và chất nguy hại (formaldehyde, dung môi, hóa chất tráng rửa phim, ethylene oxide).
- Chất thải sinh hoạt: Chất thải thông thường từ buồng bệnh, văn phòng, nhà ăn và rác ngoại cảnh.
Về thành phần vật lý, nghiên cứu dẫn số liệu khảo sát trung bình tại 80 bệnh viện ở Việt Nam để làm rõ cơ cấu chất thải rắn y tế:
| STT |
Thành phần chất thải |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Rác hữu cơ |
52,7 |
| 2 |
Các loại khác |
20,6 |
| 3 |
Túi nhựa các loại (PE, PP, PVC) |
10,1 |
| 4 |
Bông băng, bó bột |
8,8 |
| 5 |
Đồ thủy tinh và đồ nhựa |
3,2 |
| 6 |
Giấy và các loại carton |
2,9 |
| 7 |
Kim loại, vỏ hộp |
0,7 |
| 8 |
Bệnh phẩm |
0,6 |
| 9 |
Các vật sắc nhọn |
0,4 |
Chương này cũng phân tích định lượng tác động: Nước thải từ các khoa truyền nhiễm có mật độ vi khuẩn gây bệnh trên trực khuẩn đường ruột đạt tỷ lệ $1/10^2 - 1/10^3$, cao gấp 100 đến 1.000 lần nước thải sinh hoạt thông thường ($1/10^4 - 1/10^6$); trong 1 lít nước thải bệnh lao có thể chứa $10^6 - 10^9$ trực khuẩn lao.
Về kinh nghiệm quốc tế, chương khảo sát mô hình quản lý của Vương quốc Anh (phân 8 nhóm, tiêu hủy tập trung ở nhiệt độ cao, loại bỏ dần lò đốt nhỏ), Hồng Kông (phân 7 nhóm theo hướng dẫn HKMA năm 1993, chôn lấp hợp vệ sinh kỹ thuật cao và xây dựng cơ sở tiêu hủy tập trung CIF ngoại thành), Sri Lanka (phân 6 loại, chuyển dịch từ đốt lộ thiên sang chôn lấp kiểm soát và thiêu đốt tập trung). Tại Việt Nam, cả nước có trên 140.000 giường bệnh, định mức phát sinh trung bình 2,5 kg rác/giường/ngày (trong đó chất thải nguy hại chiếm 10 - 25%). Tại tỉnh Hải Dương năm 2010, 22 bệnh viện và 1.407 cơ sở y dược tư nhân thải ra hơn 1 tấn chất thải y tế mỗi ngày; 18 cơ sở công lập được trang bị lò đốt công nghệ Nhật Bản (15 - 20 kg/h) và hệ thống xử lý nước thải bằng đệm vi sinh lưu động AAO, tuy nhiên nhiều hệ thống vi sinh sau thời gian vận hành đã xuống cấp, để lại 15 - 20% chất nguy hại chưa được xử lý.
Chương 2: Hiện trạng quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương
Chương 2 trình bày chi tiết hiện trạng cơ sở hạ tầng, khối lượng phát sinh và quy trình kỹ thuật quản lý chất thải rắn cùng nước thải tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương.
Bệnh viện có lịch sử thành lập từ ngày 05/9/1906 (Nhà thương Hải Dương). Cơ cấu tổ chức gồm Ban Giám đốc, các Hội đồng chuyên môn, 45 khoa phòng trực thuộc chia thành 3 khối: Khối phòng chức năng, Khối lâm sàng và Khối cận lâm sàng với hơn 800 cán bộ, viên chức.
Đối với chất thải rắn y tế, số liệu thống kê trong 2 năm 2010 và 2011 cho thấy khối lượng phát sinh tương đối ổn định:
| Tháng |
Khối lượng năm 2010 (kg) |
Khối lượng năm 2011 (kg) |
| Tháng 1 |
3.210 |
3.316 |
| Tháng 2 |
3.265 |
3.245 |
| Tháng 3 |
3.185 |
3.341 |
| Tháng 4 |
3.454 |
3.195 |
| Tháng 5 |
3.288 |
3.268 |
| Tháng 6 |
3.195 |
3.421 |
| Tháng 7 |
3.297 |
3.367 |
| Tháng 8 |
3.142 |
3.461 |
| Tháng 9 |
3.275 |
3.138 |
| Tháng 10 |
3.364 |
3.261 |
| Tháng 11 |
3.210 |
3.348 |
| Tháng 12 |
3.421 |
3.410 |
| Tổng cộng |
39.306 |
39.771 |
| Trung bình tháng |
3.276 |
3.314 |
Trong 4 tháng đầu năm 2012, lượng chất thải y tế đưa vào lò đốt duy trì ở mức cao: Tháng 1 đạt 3.410 kg; Tháng 2 đạt 3.410 kg; Tháng 3 đạt 3.325 kg; Tháng 4 đạt 3.248 kg. Trung bình mỗi ngày bệnh viện phát sinh khoảng 100 kg chất thải rắn y tế nguy hại.
Lượng chất thải sinh hoạt phát sinh tại các khoa phòng dao động từ 516 đến 523 kg/ngày, tập trung nhiều nhất ở các khoa điều trị nội trú lớn:
| Khoa |
Lượng chất thải sinh hoạt năm 2010 (kg/ngày) |
Lượng chất thải sinh hoạt năm 2011 (kg/ngày) |
| Khoa Sản |
160 |
148 |
| Khoa Ngoại |
130 |
128 |
| Khoa Nội |
115 |
120 |
| Chuyên khoa TMH - RHM |
45 |
45 |
| Khoa Hồi sức cấp cứu |
30 |
32 |
| Khoa Nhi |
23 |
25 |
| Khoa Cận lâm sàng |
20 |
18 |
Về quy trình quản lý chất thải rắn:
- Phân loại: Áp dụng mã màu theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT. Thùng và túi màu xanh chứa chất thải sinh hoạt thông thường; thùng và túi màu vàng chứa chất thải lâm sàng không sắc nhọn; hộp nhựa cứng màu vàng có biểu tượng nguy hại sinh học (dung tích 2,5 - 20 lít) chứa vật sắc nhọn; thùng và túi màu đen tại khối cận lâm sàng chứa chất thải hóa học và phóng xạ. Túi đựng làm bằng hạt nhựa PE hoặc PP, thể tích tối đa 0,1 $\text{m}^3$, có vạch giới hạn 2/3 túi; không sử dụng túi nhựa PVC.
- Thu gom và vận chuyển: Nhân viên vệ sinh thu gom khi rác đầy 2/3 bao bì. Xe đẩy tay chuyên dụng vận chuyển riêng biệt hai dòng rác vào lúc 9 giờ sáng hàng ngày về nhà chứa rác trung tâm.
- Xử lý: Rác sinh hoạt (>1 $\text{m}^3$/ngày) được Công ty Môi trường đô thị Hải Dương vận chuyển xử lý sau 24 giờ lưu giữ. Toàn bộ chất thải rắn y tế (~100 kg/ngày) được thiêu hủy tại chỗ bằng lò đốt Hoval MZ4 (công nghệ của Áo, lắp đặt năm 2002, công suất thiết kế 500 kg/ngày). Quy trình vận hành tự động gồm chu trình sấy, buồng sơ cấp (nhiệt độ 500 - 800°C phân hủy chất hữu cơ thành khí) và buồng thứ cấp (nhiệt độ 850 - 1.200°C đốt sạch khí thải) trước khi làm nguội và xả ra môi trường.
Đối với nước thải y tế:
- Nguồn phát sinh: Nước thải sinh hoạt và nước thải chuyên môn khám chữa bệnh (dịch tiết, máu mủ, nước rửa dụng cụ, hóa chất xét nghiệm) với lưu lượng phát sinh thực tế khoảng 240 $\text{m}^3$/ngày đêm.
- Thu gom: Tách riêng nước mưa chảy tràn (hệ thống máng PVC 180 mm trên mái kết hợp hệ thống cống hộp bê tông D300 mm quanh khuôn viên, độ dốc tự chảy 1 - 1,5%) và nước thải chuyên môn bằng hệ thống đường ống kín dẫn về trạm xử lý.
- Công nghệ xử lý: Hệ thống xử lý sinh học hiếu khí bằng bể Aeroten được lắp đặt từ năm 2008, công suất thiết kế 500 $\text{m}^3$/ngày đêm.
- Chất lượng nước thải: Kết quả phân tích ngày 14/08/2011 cho thấy nước thải sau xử lý không đạt tiêu chuẩn TCVN 6772-2000 (Mức I): Hàm lượng Coliform vượt 2,2 lần; chất rắn lơ lửng (SS) vượt 47,74 lần; Tổng Nitơ vượt 11,5 lần; Tổng Phốt pho vượt 7 lần; đặc biệt chỉ số $\text{BOD}_5$ vượt 57,87 lần và COD vượt hơn 100 lần.
Chương 3: Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa Hải Dương
Chương 3 xây dựng các nhóm giải pháp toàn diện nhằm tháo gỡ các vướng mắc trong quản lý môi trường tại cơ sở:
- Xây dựng hệ thống quản lý môi trường nội bộ:
- Thành lập Ban Quản lý Môi trường bệnh viện với cơ cấu tổ chức chặt chẽ do Ban Giám đốc phụ trách trực tiếp, có sự phối hợp giữa Khoa Chống nhiễm khuẩn, Phòng Hành chính quản trị và đại diện các khoa lâm sàng.
- Ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ cụ thể cho từng vị trí từ điều dưỡng trưởng đến nhân viên hộ lý thu gom rác.
- Tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn định kỳ nâng cao nhận thức và kỹ năng thực hành phân loại chất thải cho toàn thể y bác sĩ, nhân viên vệ sinh và tuyên truyền cho người nhà bệnh nhân.
- Hoàn thiện các giải pháp kỹ thuật và hành chính:
- Biện pháp hành chính: Thiết lập cơ chế kiểm tra chéo, xử phạt vi phạm quy chế phân loại rác thải tại nguồn; lập sổ nhật trình ghi chép khối lượng chất thải giao nhận chính xác.
- Quản lý chất thải rắn: Tăng cường bổ sung trang thiết bị đạt chuẩn (hộp kháng thủng đựng vật sắc nhọn, xe đẩy chuyên dụng có nắp kín); quy định nghiêm ngặt thời gian và lộ trình di chuyển rác nội bộ tránh giờ cao điểm và khu vực buồng bệnh sạch; cải tạo nhà lưu giữ chất thải đảm bảo khoảng cách an toàn, có hệ thống khử trùng, thông gió và thoát nước riêng biệt.
- Quản lý và xử lý nước thải: Khắc phục, cải tạo chế độ làm việc của trạm xử lý sinh học Aeroten; kiểm soát chặt chẽ quá trình cấp khí hiếu khí, thời gian lưu bùn và liều lượng hóa chất khử trùng nhằm đưa các thông số ô nhiễm hữu cơ ($\text{BOD}_5$, COD), dinh dưỡng (N, P), chất lơ lửng (SS) và vi sinh vật gây bệnh (Coliform) về giới hạn cho phép của TCVN 6772-2000 Mức I trước khi xả ra mạng lưới thoát nước chung của thành phố.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đưa ra các kết quả định lượng cụ thể phản ánh chính xác thực trạng môi trường tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương:
- Xác lập đầy đủ cơ sở dữ liệu về lượng chất thải rắn y tế phát sinh trong giai đoạn 2010 - 2011 với tổng khối lượng tương ứng là 39.306 kg và 39.771 kg (dao động 3.200 - 3.450 kg/tháng); đánh giá công suất thực tế của lò đốt Hoval MZ4 đạt mức thiêu hủy triệt để 100 kg rác y tế/ngày, vận hành ở buồng thứ cấp 850 - 1.200°C.
- Phân tích chi tiết định mức phát thải chất thải rắn sinh hoạt tại 7 khối khoa phòng trọng yếu (516 - 523 kg/ngày), chỉ ra Khoa Sản là nơi phát sinh lớn nhất (148 - 160 kg/ngày).
- Phát hiện tình trạng quá tải và suy giảm hiệu quả xử lý nghiêm trọng của trạm xử lý nước thải Aeroten qua số liệu quan trắc thực tế ngày 14/08/2011: Nước thải vượt chuẩn TCVN 6772-2000 Mức I ở hầu hết các chỉ tiêu cốt lõi, cụ thể Coliform vượt 2,2 lần, SS vượt 47,74 lần, Tổng N vượt 11,5 lần, $\text{BOD}_5$ vượt 57,87 lần và COD vượt hơn 100 lần.
Đóng góp của tác giả thể hiện ở việc không chỉ dừng lại ở khảo sát mô tả mà đã chỉ rõ các điểm nghẽn kỹ thuật tại cơ sở y tế tuyến tỉnh quy mô lớn, từ đó đề xuất mô hình Ban Môi trường chuyên trách cùng các giải pháp cải tạo quy trình thu gom, lưu giữ và tối ưu hóa hệ thống xử lý nước thải phù hợp với điều kiện vận hành thực tế tại bệnh viện.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu thực tế:
- Chuỗi số liệu phân tích chất lượng nước thải trước và sau trạm xử lý còn hạn chế về số lần lấy mẫu (chủ yếu dựa trên đợt quan trắc đơn lẻ ngày 14/08/2011), chưa phản ánh được sự biến thiên nồng độ chất ô nhiễm theo mùa hoặc theo các khung giờ phát thải cao điểm trong ngày.
- Nghiên cứu chưa đi sâu tính toán các thông số công nghệ chi tiết (như tải trọng bùn, lưu lượng khí cấp, thời gian lưu nước) cần thiết để cải tạo trạm xử lý nước thải Aeroten.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung mở rộng chương trình quan trắc định kỳ đa thời điểm đối với cả nước thải và khí thải phát sinh từ ống khói lò đốt Hoval MZ4; thiết kế tính toán chi tiết phương án cải tạo công nghệ hoặc bổ sung các công trình xử lý bậc cao (như lọc màng, đệm vi sinh lưu động) nhằm đảm bảo nước thải đầu ra luôn đạt quy chuẩn môi trường.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận cung cấp nguồn tài liệu thực chứng có giá trị cho:
- Sinh viên và học viên ngành Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Môi trường, Y tế Công cộng tham khảo về phương pháp khảo sát, đánh giá dòng chất thải tại các cơ sở y tế quy mô lớn.
- Cán bộ phụ trách công tác chống nhiễm khuẩn, quản trị cơ sở vật chất và quản lý chất thải tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trong việc rà soát quy trình phân loại rác theo mã màu, tổ chức lộ trình thu gom nội bộ và kiểm soát hệ thống thiêu đốt Hoval MZ4.
- Điểm tham khảo đáng chú ý nhất của tài liệu là hệ thống bảng biểu thống kê chi tiết lượng rác thải rắn y tế theo từng tháng, dữ liệu phát thải rác sinh hoạt phân rã theo từng khoa điều trị chuyên biệt và các dữ liệu cảnh báo về độ lệch chuẩn của nước thải xử lý bằng bể Aeroten.
Câu hỏi thường gặp
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương xử lý chất thải rắn y tế bằng công nghệ gì và công suất bao nhiêu?
Chất thải rắn y tế nguy hại tại bệnh viện được thiêu hủy hoàn toàn tại chỗ bằng hệ thống lò đốt Hoval MZ4 (công nghệ của Áo) được lắp đặt từ năm 2002. Lò có công suất thiết kế 500 kg/ngày, vận hành với buồng sơ cấp ở nhiệt độ 500 - 800°C và buồng thứ cấp ở nhiệt độ 850 - 1.200°C. Thực tế lò xử lý trung bình khoảng 100 kg rác y tế/ngày.
Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh hàng năm tại bệnh viện là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê trong khóa luận, tổng lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại bệnh viện năm 2010 là 39.306 kg (trung bình 3.276 kg/tháng) và năm 2011 là 39.771 kg (trung bình 3.314 kg/tháng). Khối lượng phát sinh tương đối đồng đều qua các tháng, dao động trong khoảng từ 3.200 đến 3.450 kg/tháng.
Khoa phòng nào phát sinh lượng chất thải rắn sinh hoạt lớn nhất trong bệnh viện?
Khoa Sản là đơn vị phát sinh chất thải rắn sinh hoạt cao nhất với khối lượng 160 kg/ngày vào năm 2010 và 148 kg/ngày vào năm 2011. Tiếp theo là Khoa Ngoại (128 - 130 kg/ngày) và Khoa Nội (115 - 120 kg/ngày). Các khoa có lượng phát sinh thấp nhất là Khoa Nhi (23 - 25 kg/ngày) và Khoa Cận lâm sàng (18 - 20 kg/ngày).
Tình trạng xử lý nước thải của bệnh viện theo kết quả khảo sát như thế nào?
Bệnh viện thu gom nước thải với lưu lượng phát sinh khoảng 240 $\text{m}^3$/ngày đêm đưa về trạm xử lý sinh học Aeroten có công suất thiết kế 500 $\text{m}^3$/ngày đêm (lắp đặt năm 2008). Tuy nhiên, kết quả phân tích ngày 14/08/2011 cho thấy nước thải sau xử lý bị ô nhiễm nghiêm trọng, không đạt TCVN 6772-2000 Mức I: Coliform vượt 2,2 lần, SS vượt 47,74 lần, Tổng N vượt 11,5 lần, Tổng P vượt 7 lần, $\text{BOD}_5$ vượt 57,87 lần và COD vượt trên 100 lần.
Quy định mã màu phân loại chất thải rắn tại bệnh viện được thực hiện ra sao?
Bệnh viện tuân thủ theo Quy chế của Bộ Y tế: Túi và thùng màu vàng chứa chất thải lâm sàng không sắc nhọn; hộp nhựa cứng màu vàng có biểu tượng nguy hại sinh học chứa vật sắc nhọn; túi và thùng màu xanh chứa rác thải sinh hoạt thông thường; túi và thùng màu đen (tại khối cận lâm sàng) chứa chất thải hóa học và phóng xạ. Bao bì đựng rác là túi PE hoặc PP có thể tích tối đa 0,1 $\text{m}^3$ và có vạch báo nạp tối đa 2/3 túi; tuyệt đối không dùng nhựa PVC.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Mạc Thị Ngọc Hà đã hoàn thành mục tiêu khảo sát toàn diện và đánh giá chi tiết hiện trạng phát sinh cũng như công tác quản lý chất thải rắn y tế, rác sinh hoạt và nước thải tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương giai đoạn 2010 - 2012. Nghiên cứu đã cung cấp bức tranh số liệu thực chứng rõ ràng, khẳng định tính hiệu quả của hệ thống thiêu đốt chất thải rắn y tế tại chỗ bằng lò Hoval MZ4, đồng thời phát hiện kịp thời tình trạng suy giảm hiệu suất nghiêm trọng của hệ thống xử lý nước thải Aeroten. Các nhóm giải pháp về tổ chức bộ máy quản lý môi trường và tối ưu hóa quy trình kỹ thuật thu gom, xử lý được đề xuất có tính khả thi, đóng góp thiết thực vào công tác kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng tại cơ sở khám chữa bệnh trọng điểm của địa phương.