Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống y tế công cộng, việc gia tăng quy mô cơ sở khám chữa bệnh cùng với xu hướng sử dụng rộng rãi các vật tư y tế tiêu hao dùng một lần đã làm gia tăng đáng kể khối lượng chất thải rắn y tế. Chất thải rắn y tế, đặc biệt là các nhóm chất thải có tính lây nhiễm cao và chất thải nguy hại, nếu không được quản lý, thu gom và xử lý theo đúng quy chuẩn kỹ thuật sẽ trở thành nguồn phát tán mầm bệnh, gây ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường đất, nước, không khí và đe dọa trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.
Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý" được tác giả Trần Trọng Long (chuyên ngành Khoa học Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) thực hiện năm 2018 nhằm khảo sát, phân tích toàn diện hiện trạng quản lý dòng thải rắn tại một cơ sở y tế chuyên khoa đặc thù.
Hệ thống mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên; từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải y tế và cải thiện chất lượng môi trường bệnh viện.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá công tác quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên.
- Phân tích các nguyên nhân còn tồn tại trong quy trình thu gom, phân loại, lưu giữ, vận chuyển và xử lý rác thải.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện.
- Đánh giá mức độ hiểu biết của cán bộ nhân viên y tế và bệnh nhân về tình hình quản lý rác thải y tế tại cơ sở.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chất thải rắn y tế phát sinh từ các hoạt động chuyên môn, hỗ trợ điều trị và sinh hoạt tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên.
- Phạm vi không gian: Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên (địa chỉ tại Tổ 16, phường Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; tổng diện tích khuôn viên khoảng 32.049 m²).
- Phạm vi thời gian: Đề tài được tiến hành thu thập số liệu và khảo sát thực địa từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2018, kết hợp sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2016–2018 của bệnh viện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung pháp lý và cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn môi trường của Nhà nước và các Bộ, ngành liên quan:
- Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 (Quốc hội thông qua ngày 23/06/2014).
- Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải y tế (thay thế và bổ sung các nội dung của Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT).
- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại.
- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011–2015 và định hướng đến năm 2020.
- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 02:2008/BTNMT về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế; Tiêu chuẩn vệ sinh môi trường lao động TC 3773/2002/QĐ-BYT.
Văn bản hệ thống hóa định nghĩa, phân loại chất thải y tế theo 4 nhóm mã màu quy định tại Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT:
- Màu vàng: Chất thải lây nhiễm (chất thải lây nhiễm sắc nhọn, không sắc nhọn, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao, chất thải giải phẫu).
- Màu đen: Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn và lỏng (hóa chất độc hại, dược phẩm quá hạn, chất gây độc tế bào, chất thải phóng xạ).
- Màu xanh: Chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế.
- Màu trắng: Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế.
Về phương diện kỹ thuật xử lý, nghiên cứu tổng thuật các phương pháp xử lý chất thải rắn y tế phổ biến: khử trùng (bằng hóa chất như Clo, Hypoclorite; nhiệt ướt áp suất cao; vi sóng/siêu cao tần), chôn lấp (chôn lấp hợp vệ sinh hoặc chôn lấp an toàn cách ly) và thiêu đốt ở nhiệt độ cao (lò đốt chuyên dụng 1.000°C – 1.400°C).
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra xã hội học môi trường:
- Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Tiếp cận báo cáo thống kê định kỳ, hồ sơ quản lý môi trường, cơ cấu tổ chức, quy mô giường bệnh, nhân lực năm 2017–2018 do các phòng chức năng của Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên cung cấp; báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên và quốc gia.
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn, khảo sát thực địa: Sử dụng phiếu câu hỏi khảo sát với dung lượng mẫu $n = 40$ phiếu. Đối tượng phỏng vấn được lựa chọn ngẫu nhiên bao gồm: cán bộ y tế tại các khoa phòng, nhân viên vệ sinh, nhân viên thu gom và xử lý rác, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân. Nội dung tập trung vào nhận thức quy chế, thực tế phân loại tại nguồn và các bất cập phát sinh.
- Phương pháp xác định lượng rác thải phát sinh: Tiến hành cân định lượng trực tiếp hàng ngày bằng cân đồng hồ chuyên dụng loại 30 kg vào 2 khung giờ cố định: 10 giờ 00 sáng và 15 giờ 00 chiều tại tất cả các khoa, phòng ban trong bệnh viện.
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Toàn bộ dữ liệu định lượng và định tính được làm sạch, thống kê và phân tích tỷ lệ bằng phần mềm Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đặc thù Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên là cơ sở khám chữa bệnh truyền nhiễm, nơi rác thải y tế tiềm ẩn nguy cơ lây lan trực khuẩn lao và các vi sinh vật gây bệnh đường hô hấp. Chương này xác lập cấu trúc mục tiêu chung, 4 mục tiêu cụ thể, phạm vi nghiên cứu và khẳng định ý nghĩa thực tiễn của việc đánh giá đúng dòng thải nhằm xây dựng mô hình kiểm soát an toàn sinh học.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương 2 cung cấp bức tranh tổng thể về tình hình quản lý chất thải rắn y tế trên bình diện quốc tế và tại Việt Nam:
- Thực trạng thế giới: Suất phát sinh chất thải tại bệnh viện tuyến trung ương dao động từ 4,1–8,7 kg/giường/ngày (trong đó chất thải nguy hại chiếm 0,4–1,6 kg/giường/ngày); tuyến tỉnh từ 2,1–4,2 kg/giường/ngày; tuyến huyện từ 0,5–1,8 kg/giường/ngày. Dẫn chứng số liệu từ các nước châu Á như Bangladesh (0,8–1,67 kg/giường/ngày), Malaysia (1,9 kg/giường/ngày), Trung Quốc (khoảng 730.000 tấn/năm).
- Thực trạng tại Việt Nam: Lượng chất thải rắn y tế cả nước ước tính 100–140 tấn/ngày (chất thải y tế nguy hại chiếm 16–30 tấn/ngày), định mức trung bình toàn quốc đạt 0,86 kg/giường/ngày. Văn bản trích xuất số liệu khảo sát 834 bệnh viện của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường: 95,6% bệnh viện thực hiện phân loại chất thải, 91,1% có dụng cụ thu gom vật sắc nhọn riêng, 53,4% có nhà lưu giữ rác có mái che và 73,3% có biện pháp xử lý bằng lò đốt tại chỗ hoặc cụm tập trung.
- Thực trạng tại tỉnh Thái Nguyên: Năm 2016, công suất sử dụng giường bệnh bình quân toàn tỉnh đạt 146,1% so với kế hoạch (tuyến huyện đạt 161,8%). Hệ thống xử lý chất thải rắn y tế tại nhiều bệnh viện huyện (Phú Lương, Phú Bình, Đồng Hỷ) xuống cấp sau 5 năm sử dụng, lò đốt tiêu tốn 15–18 lít dầu/lần vận hành nhưng xử lý chưa triệt để, phát sinh khói mùi ảnh hưởng đến khu dân cư.
Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu:
- Xác lập địa bàn nghiên cứu tại phường Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên trong thời gian từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2018.
- Thiết kế khung nghiên cứu bao gồm 4 nội dung trọng tâm: khảo sát cơ sở hạ tầng, xác định nguồn gốc và thành phần chất thải, định lượng phát sinh theo từng khoa/phòng, và phân tích các khâu phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý cuối cùng.
- Quy định chi tiết cách thức cân định lượng $n=40$ phiếu điều tra và quy trình xử lý số liệu trên bảng tính Excel.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
1. Khái quát về cơ sở nghiên cứu
Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên là bệnh viện chuyên khoa truyền nhiễm Hạng II tuyến tỉnh với quy mô 170 giường bệnh thực tế. Cơ cấu tổ chức gồm 4 phòng chức năng (Kế hoạch tổng hợp, Tổ chức hành chính, Tài chính kế toán, Điều dưỡng), 5 khoa lâm sàng, 6 khoa cận lâm sàng và 1 Trạm chống lao thực hiện chỉ đạo tuyến. Tổng số cán bộ nhân viên năm 2018 là 206 người, bao gồm 4 Bác sĩ CKII, 1 Thạc sĩ, 21 Bác sĩ CKI, 16 Bác sĩ, 3 Dược sĩ đại học, 18 Y tá/Điều dưỡng đại học, 59 Y tá/Điều dưỡng trung học và các nhân viên kỹ thuật, hợp đồng.
2. Nguồn gốc, thành phần và khối lượng phát sinh
Chất thải rắn y tế tại bệnh viện phát sinh từ hoạt động khám chữa bệnh, xét nghiệm, dược phẩm và sinh hoạt nội trú:
- Phân bố thành phần chất thải năm 2017: Tổng lượng rác thải y tế phát sinh trong năm gồm: chất thải thông thường chiếm tỷ lệ cao nhất với 74,10% (18.100 kg); chất thải lây nhiễm chiếm 17,78% (4.780 kg); chất thải nguy hại không lây nhiễm chiếm 2,96% (730 kg); chất thải tái chế chiếm 5,16% (1.160 kg).
- Khối lượng phát sinh theo ngày: Kết quả cân định lượng phát sinh chất thải tại các khoa/phòng ban được tổng hợp cụ thể trong bảng dưới đây:
| STT |
Khoa / Phòng |
Chất thải lây nhiễm (kg/ngày) |
Tỷ lệ (%) |
Chất thải tái chế (kg/ngày) |
Tỷ lệ (%) |
Chất thải thông thường (kg/ngày) |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Khoa Nội 1 |
3,5 |
9,56 |
1,9 |
12,84 |
21,1 |
13,13 |
| 2 |
Khoa Nội 2 |
3,4 |
9,29 |
1,6 |
10,81 |
19,5 |
12,13 |
| 3 |
Khoa Nội 3 |
3,7 |
10,11 |
1,5 |
10,34 |
17,7 |
11,01 |
| 4 |
Khoa Nội 4 |
4,6 |
12,57 |
2,3 |
15,54 |
21,5 |
13,38 |
| 5 |
Khoa Cấp cứu |
2,4 |
6,56 |
1,7 |
11,48 |
22,3 |
13,89 |
| 6 |
Khoa Khám bệnh |
3,1 |
8,47 |
0,0 |
0,00 |
19,1 |
11,89 |
| 7 |
Khoa Xét nghiệm & CĐHA |
2,6 |
7,10 |
4,6 |
31,08 |
9,7 |
6,04 |
| 8 |
Khoa Dược – KSNK |
6,1 |
16,67 |
1,6 |
10,81 |
11,4 |
7,09 |
| 9 |
Phòng Hành chính |
1,5 |
4,09 |
0,0 |
0,00 |
2,5 |
1,56 |
| 10 |
Phòng Tài chính kế toán |
1,2 |
3,29 |
0,0 |
0,00 |
3,0 |
1,87 |
| 11 |
Phòng Kế hoạch tổng hợp |
1,3 |
3,55 |
0,0 |
0,00 |
4,0 |
2,49 |
| 12 |
Phòng Điều dưỡng |
3,2 |
8,74 |
0,0 |
0,00 |
3,0 |
1,87 |
| Tổng |
-- |
36,6 |
100,0 |
14,8 |
100,0 |
154,8 |
100,0 |
3. Thực trạng các khâu quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện
- Phân loại tại nguồn: Cơ bản thực hiện theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT. Tại các buồng bệnh, phòng thủ thuật và xe tiêm đã bố trí thùng/túi màu vàng (chất thải lây nhiễm không sắc nhọn), hộp nhựa cứng kháng thủng màu vàng (chất thải sắc nhọn), thùng/túi màu xanh (chất thải sinh hoạt), thùng màu đen (chất thải hóa học/phóng xạ) và túi màu trắng (chất thải tái chế).
- Thu gom và vận chuyển nội bộ: Bệnh viện tổ chức thu gom định kỳ 2 lần/ngày. Trang thiết bị thu gom gồm có 40 thùng đựng rác, 10 xe đẩy rác (gồm 4 xe đẩy rác thông thường, 3 xe gom tại các khoa phòng), 15 xẻng cuốc, 20 chổi quét và 20 hót rác. Tồn tại điểm nghẽn: tại một số khoa phòng, nhân viên vẫn vận chuyển rác thủ công bằng cách xách tay về nơi lưu giữ tập trung.
- Xử lý cuối cùng:
- Chất thải sinh hoạt thông thường: Hợp đồng chuyển giao cho Công ty Cổ phần Môi trường và Đô thị Thái Nguyên thu gom, xử lý với khối lượng trung bình khoảng 5.400 kg/tháng (chiếm 57,13% lượng rác phát sinh).
- Chất thải lây nhiễm và nguy hại: Bàn giao trực tiếp cho Công ty Dịch vụ Môi trường Anh Đăng (huyện Phú Bình) vận chuyển và tiêu hủy bằng hệ thống chuyên dụng.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Định lượng chính xác dòng thải: Xác định tỷ trọng chất thải rắn y tế phát sinh tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên năm 2017: chất thải thông thường chiếm 74,10%, chất thải lây nhiễm chiếm 17,78%, chất thải nguy hại không lây nhiễm chiếm 2,96% và chất thải tái chế chiếm 5,16%.
- Định mức phát sinh theo khoa phòng: Xác định khối lượng phát sinh hàng ngày tại 12 đơn vị; trong đó Khoa Dược – Kiểm soát nhiễm khuẩn phát sinh lượng chất thải lây nhiễm cao nhất (6,1 kg/ngày, tương đương 16,67%), Khoa Xét nghiệm và Chẩn đoán hình ảnh phát sinh lượng chất thải tái chế lớn nhất (4,6 kg/ngày, tương đương 31,08%), và Khoa Cấp cứu phát sinh lượng chất thải thông thường nhiều nhất (22,3 kg/ngày, tương đương 13,89%).
- Đánh giá thực trạng hạ tầng: Xác nhận bệnh viện đã trang bị 40 thùng rác, 10 xe đẩy và các dụng cụ vệ sinh, đáp ứng phân loại sơ bộ tại nguồn nhưng phương thức vận chuyển nội bộ tại một số khoa vẫn mang tính thủ công.
Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất
Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ theo 4 nhóm:
- Giải pháp nhân lực: Tổ chức các lớp tập huấn thường xuyên về Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT cho nhân viên y tế và nhân viên vệ sinh; tăng cường cơ chế kiểm tra chéo giữa các khoa phòng nhằm hạn chế việc bỏ nhầm chất thải.
- Giải pháp cơ sở vật chất và kinh phí: Thay thế toàn bộ xe đẩy rác theo chuẩn kỹ thuật (đáy kín, nắp đậy, dễ tẩy uế); chuyển đổi thùng đựng vật sắc nhọn sang loại thể tích nhỏ hơn để rút ngắn thời gian lưu giữ; bổ sung đầy đủ túi nilon màu trắng cho chất thải tái chế tại các buồng bệnh; nâng cấp nhà lưu giữ có cửa đóng kín ngăn động vật xâm nhập.
- Giải pháp kỹ thuật thu gom, vận chuyển: Thực hiện nghiêm ngặt quy tắc chỉ buộc miệng túi khi chất thải đầy đến 3/4 thể tích; thiết lập lộ trình vận chuyển rác nội bộ riêng biệt, tránh đi qua khu vực đông bệnh nhân và tránh giờ cao điểm.
- Giải pháp truyền thông: Tận dụng hệ thống loa phát thanh bệnh viện, áp phích trực quan để hướng dẫn bệnh nhân và người nhà phân loại rác sinh hoạt, không làm phát tán mầm bệnh.
Đóng góp của đề tài
Khóa luận cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm về cơ cấu và định mức phát sinh chất thải rắn tại một bệnh viện chuyên khoa truyền nhiễm Hạng II cấp tỉnh. Kết quả nghiên cứu là tài liệu thực tiễn giúp Ban Giám đốc Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên điều chỉnh quy trình quản lý dòng thải và làm tài liệu tham khảo cho công tác quản lý chất thải y tế tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Dung lượng mẫu khảo sát xã hội học còn nhỏ ($n = 40$ phiếu); thời gian theo dõi cân đo trực tiếp diễn ra trong 5 tháng (từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2018) nên chưa phản ánh được sự biến động theo mùa hoặc các đợt bùng phát dịch bệnh theo chu kỳ năm; nghiên cứu chưa thực hiện các phân tích hóa lý chuyên sâu trong phòng thí nghiệm đối với thành phần vi sinh vật trong tro thải hoặc nước rỉ rác.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá dòng thải lỏng (nước thải y tế) và khí thải phát sinh trong bệnh viện; mở rộng phạm vi theo dõi định lượng trong cả năm; nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế – kỹ thuật khi áp dụng mô hình thu gom và xử lý chất thải y tế nguy hại theo cụm cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích cho các đối tượng và mục đích cụ thể:
- Sinh viên và học viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Y tế Công cộng: Tham khảo phương pháp thiết kế nghiên cứu đánh giá dòng thải rắn y tế, kỹ thuật cân định lượng theo khung giờ cố định và cách thức lập bảng danh mục phân loại chất thải tại nguồn.
- Cán bộ quản lý môi trường, Ban Kiểm soát nhiễm khuẩn tại các bệnh viện: Tham khảo Bảng 4.5 (Bảng danh mục chi tiết phân loại và thu gom chất thải y tế theo từng nhóm vật dụng lâm sàng/cận lâm sàng) và các giải pháp tổ chức tuyến đường vận chuyển nội bộ nhằm tránh nhiễm khuẩn chéo.
Câu hỏi thường gặp
1. Quy mô giường bệnh và nhân lực của Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên tại thời điểm nghiên cứu là bao nhiêu?
Theo số liệu năm 2018 trong khóa luận, Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên là bệnh viện chuyên khoa Hạng II có quy mô 170 giường bệnh, tổng số nhân lực là 206 cán bộ nhân viên (trong đó có 4 Bác sĩ CKII, 1 Thạc sĩ, 21 Bác sĩ CKI, 16 Bác sĩ, 3 Dược sĩ đại học, 18 Cử nhân Điều dưỡng, 59 Điều dưỡng trung cấp và các vị trí khác).
2. Tỷ trọng các thành phần chất thải rắn y tế phát sinh tại bệnh viện năm 2017 được ghi nhận như thế nào?
Tổng lượng chất thải rắn y tế năm 2017 gồm: chất thải thông thường chiếm 74,10% (18.100 kg), chất thải lây nhiễm chiếm 17,78% (4.780 kg), chất thải nguy hại không lây nhiễm chiếm 2,96% (730 kg), và chất thải tái chế chiếm 5,16% (1.160 kg).
3. Đơn vị nào chịu trách nhiệm xử lý cuối cùng đối với chất thải sinh hoạt và chất thải lây nhiễm của bệnh viện?
Chất thải sinh hoạt thông thường được bàn giao cho Công ty Cổ phần Môi trường và Đô thị Thái Nguyên xử lý (khối lượng trung bình khoảng 5.400 kg/tháng, chiếm 57,13% lượng rác phát sinh). Chất thải lây nhiễm được bàn giao cho Công ty Dịch vụ Môi trường Anh Đăng (huyện Phú Bình) để thu gom và xử lý tiêu hủy.
4. Khối lượng chất thải lây nhiễm phát sinh nhiều nhất ở khoa nào trong bệnh viện?
Theo kết quả cân định lượng hàng ngày tại Bảng 4.4, Khoa Dược – Kiểm soát nhiễm khuẩn phát sinh lượng chất thải lây nhiễm lớn nhất với 6,1 kg/ngày (chiếm 16,67% tổng lượng chất thải lây nhiễm của toàn viện), tiếp theo là Khoa Nội 4 với 4,6 kg/ngày (chiếm 12,57%).
5. Tác giả đã sử dụng công cụ và phương pháp nào để xác định khối lượng chất thải rắn phát sinh thực tế?
Tác giả sử dụng cân định lượng loại 30 kg, tiến hành cân trực tiếp chất thải rắn phát sinh tại tất cả các khoa, phòng vào 2 khung giờ cố định mỗi ngày: 10 giờ 00 sáng và 15 giờ 00 chiều, sau đó tổng hợp và phân tích số liệu bằng phần mềm Excel.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Trọng Long đã phản ánh chi tiết hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Thái Nguyên năm 2018 thông qua các số liệu điều tra thực địa và cân định lượng cụ thể. Nghiên cứu chỉ rõ dòng thải chất thải rắn y tế chủ yếu là chất thải thông thường (74,10%) và chất thải lây nhiễm (17,78%), đồng thời làm rõ việc phân loại tại nguồn đã tuân thủ Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT nhưng khâu vận chuyển nội bộ vẫn còn bất cập. Hệ thống giải pháp đề xuất tập trung vào đào tạo nhân lực, chuẩn hóa phương tiện vận chuyển và hoàn thiện quy trình lưu giữ an toàn, đóng góp thiết thực cho công tác bảo vệ môi trường và kiểm soát nhiễm khuẩn tại cơ sở y tế chuyên khoa lao và bệnh phổi.