Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quản lý chất thải y tế là một trong những thách thức môi trường và sức khỏe cộng đồng cấp bách trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh chóng tại các đô thị lớn kéo theo sự gia tăng mạnh mẽ về quy mô khám chữa bệnh, dẫn đến khối lượng chất thải y tế phát sinh ngày càng lớn với thành phần phức tạp và độc hại. Tại thành phố Hải Phòng — trung tâm y tế, kinh tế và văn hóa lớn của khu vực phía Bắc — mạng lưới khám chữa bệnh phát triển nhanh, cơ sở hạ tầng ở nhiều đơn vị y tế còn thiếu đồng bộ, đặt ra áp lực lớn đối với công tác thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải nhằm ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và lây nhiễm dịch bệnh cho cộng đồng.

Khóa luận tốt nghiệp ngành Môi trường của tác giả Bùi Quang Huy (Trường Đại học Dân lập Hải Phòng, năm 2019) thực hiện đề tài "Khảo sát và đánh giá hiện trạng quản lý chất thải y tế tại một số bệnh viện ở Hải Phòng" nhằm giải quyết các nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể:

  1. Tìm hiểu các quy định, tiêu chuẩn lý luận và cơ sở thực tiễn về quản lý chất thải y tế.
  2. Khảo sát, thu thập số liệu và đánh giá thực trạng quy trình phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải y tế tại 3 bệnh viện lớn trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
  3. Đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quản lý và chính sách nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải y tế nội viện cũng như chuỗi thu gom, vận chuyển và tiêu hủy ngoài cơ sở y tế.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quy trình quản lý chất thải y tế, bao gồm chất thải y tế thông thường và chất thải y tế nguy hại (chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học, vật sắc nhọn, chất thải tái chế).
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực tế tại 3 bệnh viện tuyến đầu của Hải Phòng gồm: Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, Bệnh viện Trẻ em (Bệnh viện Nhi) Hải Phòng, cùng đơn vị xử lý tập trung là Khu liên hợp xử lý chất thải Tràng Cát thuộc Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hải Phòng.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thống kê, điều tra thực địa tập trung vào năm 2017 và giai đoạn vận hành tính đến thời điểm thực hiện khóa luận (2018–2019).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống văn bản pháp quy và khung lý thuyết chuyên ngành quản lý môi trường:

  • Khung pháp lý và quy định: Quy chế quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo Quyết định của Bộ Y tế ngày 31/12/2015; Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại; các tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và quy chuẩn môi trường liên quan.
  • Hệ thống khái niệm: Định nghĩa chuẩn hóa về chất thải rắn, chất thải rắn y tế, chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường, rác sinh hoạt y tế; tiêu chuẩn phân định màu sắc bao bì (vàng: lây nhiễm; đen: hóa học/phóng xạ; xanh: thông thường; trắng: tái chế).
Thành phần chất thải y tế tại Việt Nam (theo thống kê Bộ Y tế trong khóa luận):
- Chất hữu cơ: 52,9% (không nguy hại)
- Chai nhựa PVC, PE, PP: 10,1% (nguy hại)
- Bông băng: 8,8% (nguy hại)
- Kim tiêm, ống tiêm: 0,9% (nguy hại)
- Bệnh phẩm sau mổ: 0,6% (nguy hại)
- Đất, cát, sành sứ và chất rắn khác: 20,9% (không nguy hại)
- Vỏ hộp kim loại: 2,9% (không nguy hại)
- Chai lọ thủy tinh, xi lanh: 2,3% (nguy hại)
- Giấy loại, bìa carton: 0,8% (không nguy hại)
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu: Tổng hợp số liệu thứ cấp từ Bộ Y tế, Sở Y tế Hải Phòng, Công ty Môi trường Đô thị Hải Phòng và báo cáo hành chính của 3 bệnh viện.
    • Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: Khảo sát trực tiếp quy trình phân loại, dụng cụ chứa đựng, phương tiện vận chuyển, kho lưu giữ tại các khoa phòng của 3 bệnh viện và quy trình chôn lấp/thiêu đốt tại Khu liên hợp xử lý chất thải Tràng Cát.
    • Phương pháp thống kê, phân tích định lượng: Tính toán chỉ số phát thải trung bình theo ngày, theo tháng, định mức phát thải trên giường bệnh ($kg/GB/ngày$), tỷ lệ cán bộ nhân viên được tập huấn, tỷ lệ tái chế chất thải.
    • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So chiếu hiện trạng vận hành thực tế tại các bệnh viện với các chỉ tiêu bắt buộc của Quy chế quản lý chất thải y tế và Thông tư 12/2006/TT-BTNMT.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu phát thải và hồ sơ kỹ thuật năm 2017 cung cấp bởi Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hải Phòng và phòng chức năng của 3 cơ sở y tế khảo sát.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất thải y tế, phân loại, đặc tính lý - hóa - sinh và những tác động tiêu cực đến hệ sinh thái và sức khỏe con người:

  • Đặc tính kỹ thuật: Chất thải y tế có tỷ lệ dễ cháy từ 83% đến 99%; nhiệt trị khô đạt 573 kcal/kg, nhiệt trị ướt 90 kcal/kg; tỷ lệ độ ẩm dao động từ 0% (túi nilon) đến 90% (chất thải phẫu thuật); mật độ vật lý trung bình 0,11 kg/lít; hàm lượng Clo 0,42%, Chì (Pb) 28,84 mg/kg, Thủy ngân (Hg) 2,41 mg/kg, Cadimi (Cd) 1,53 mg/kg.
  • Tác động môi trường: Phân tích cơ chế gây ô nhiễm đất (thay đổi kết cấu đất, hấp phụ độc chất), ô nhiễm nước (rò rỉ vi sinh vật gây bệnh, nước thải y tế chưa qua xử lý), ô nhiễm không khí (phát tán bụi rác, bào tử vi sinh, khí độc $CH_4, NH_3, H_2S$ và hợp chất Dioxin cực độc sinh ra khi thiêu đốt không đạt chuẩn).
  • Thực trạng trong nước và quốc tế: Tổng quan chỉ số phát sinh chất thải theo giường bệnh trên thế giới (bệnh viện trung ương: 4,1–8,7 kg/GB/ngày, y tế nguy hại: 0,4–1,6 kg/GB/ngày). Tại Việt Nam, tổng lượng chất thải rắn y tế phát sinh khoảng 450 tấn/ngày (trong đó 47 tấn/ngày là nguy hại); cả nước có 13.511 cơ sở y tế; 50% bệnh viện phân loại thu gom đạt chuẩn; tỷ lệ xử lý bằng lò đốt 2 buồng hoặc vi sóng chiếm 29,4%, hợp đồng thuê xử lý chiếm 39,8%, và 30,8% vẫn dùng lò 1 buồng hoặc tự chôn lấp thủ công.

CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ CỦA MỘT SỐ BỆNH VIỆN TẠI HẢI PHÒNG

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng tại 3 bệnh viện trọng điểm của Hải Phòng:

  • Quy mô cơ sở khảo sát:
    • Bệnh viện Đa khoa Việt Tiệp: Bệnh viện tuyến cuối thành phố, quy mô theo kế hoạch trên 1.400 giường bệnh, điều trị nội trú 950–1.000 bệnh nhân/ngày, khám ngoại trú 600–700 người/ngày.
    • Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng: Bệnh viện chuyên khoa hạng I, quy mô 450 giường bệnh, 609 cán bộ viên chức, tiếp nhận khám trung bình 86.829 ca/năm.
    • Bệnh viện Trẻ em (Bệnh viện Nhi): Bệnh viện chuyên khoa nhi tuyến cuối thành phố, quy mô 330 giường bệnh nội trú, khám 120–150 lượt/ngày.
Chỉ số khảo sát (Năm 2017) Bệnh viện Việt Tiệp Bệnh viện Phụ sản Bệnh viện Trẻ em
Số nhân sự phụ trách QLCTYT 10 người 4 người 4 người
Tỷ lệ CBNV được tập huấn QLCTYT 60% 50% 45%
Khối lượng CTYT thông thường trung bình 1.818 kg/ngày 1.576 kg/ngày 1.387 kg/ngày
Hệ số phát thải CTYT thông thường 1,704 kg/GB/ngày 1,504 kg/GB/ngày 1,182 kg/GB/ngày
Tổng lượng CTYT nguy hại phát sinh cả năm 41.188,4 kg/năm 16.718,1 kg/năm 11.549,6 kg/năm
Tỷ lệ chất thải được thu gom tái chế 12,8% 13,9% 11,6%
  • Quy luật phát sinh theo thời gian: Khối lượng chất thải thông thường tại cả 3 bệnh viện có xu hướng tăng đều về các tháng cuối năm (tháng 11, 12) và đầu năm (tháng 1). Nguyên nhân do đặc thù thời tiết miền Bắc chuyển lạnh, độ ẩm cao làm gia tăng các ca bệnh đường hô hấp ở người già và trẻ em.
Diễn biến phát sinh CTYT nguy hại năm 2017 theo tháng (kg/tháng):
- Tháng 1: Việt Tiệp (2.857,7) | Phụ sản (1.703,8) | Trẻ em (145,0)
- Tháng 3: Việt Tiệp (3.580,3) | Phụ sản (820,5)   | Trẻ em (128,4)
- Tháng 6: Việt Tiệp (3.710,7) | Phụ sản (1.015,7) | Trẻ em (1.211,2)
- Tháng 9: Việt Tiệp (3.287,7) | Phụ sản (1.377,7) | Trẻ em (1.374,0)
- Tháng 11: Việt Tiệp (3.641,3) | Phụ sản (2.250,8) | Trẻ em (1.487,0)
- Tháng 12: Việt Tiệp (3.690,7) | Phụ sản (2.086,7) | Trẻ em (1.501,0)
  • Đánh giá quy trình nội viện và các bất cập phát hiện:
    • Phân loại và dụng cụ chứa: Đã trang bị thùng chứa phân màu nhưng túi nilon lót mua trên thị trường không đạt chuẩn Bộ Y tế: 100% túi không có vạch báo mức 3/4, không in dòng chữ "Không được đựng quá vạch này", thiếu biểu tượng chất thải nguy hại. Vật sắc nhọn còn thu gom vào vỏ chai nhựa truyền dịch, hộp carton tự chế dễ bị kim tiêm đâm xuyên. Hiện tượng để lẫn vật sắc nhọn vào rác lây nhiễm và rác tái chế vẫn xảy ra.
    • Xử lý ban đầu và tái chế: Hầu hết chất thải lâm sàng có nguy cơ lây nhiễm cao không được khử khuẩn ban đầu tại nguồn phát sinh. Vật liệu tái chế (chai nhựa dịch truyền, vỏ chai thủy tinh) chưa được khử trùng trước khi chuyển giao, tiềm ẩn nguy cơ phơi nhiễm.
    • Lưu giữ nội bộ: Bệnh viện Việt Tiệp có nhà lưu giữ đạt chuẩn; Bệnh viện Phụ sản chưa có kho lưu rác sinh hoạt riêng, kho CTYT nguy hại đặt gần luồng người qua lại và thiếu phương tiện rửa tay; Bệnh viện Trẻ em có kho lưu giữ xuống cấp, chưa phân khu độc hại riêng biệt.
  • Hiện trạng thu gom, xử lý ngoài cơ sở y tế:
    • Cả 3 bệnh viện ký hợp đồng vận chuyển với Công ty Môi trường Đô thị Hải Phòng (tần suất thu gom 4 lần/tuần: thứ 2, 4, 5, 7 bằng 01 xe Hyundai chuyên dụng 3,5 tấn; hạ tầng công ty gồm 70 thùng nhựa 250L, 14 xe đẩy tay, 10 công nhân, 01 lò đốt Hoval-MZ4 công suất 400–500 kg/ngày).
    • Phương pháp xử lý thực tế tại Khu liên hợp Tràng Cát chủ yếu là chôn lấp hợp vệ sinh: Hố chôn sâu 2,0 m, thể tích $10\text{ m}^3$, đáy lót 10 cm đất núi và vải nilon chống thấm. Định mức xử lý hóa chất gồm $1\text{ kg}$ chế phẩm vi sinh TOGAGEL/$m^3$ rác và $30\text{ kg}$ vôi bột/$m^3$ rác. Cứ đổ $0,5\text{ m}^3$ rác thì phủ lớp đất dày 10–15 cm; lớp đất mặt cuối cùng dày 50 cm.
    • Bất cập pháp lý: Công ty Môi trường Đô thị Hải Phòng chưa đăng ký và chưa được cấp giấy phép hành nghề quản lý chất thải nguy hại theo Thông tư 12/2006/TT-BTNMT; hồ sơ giao nhận chỉ là phiếu khai nhận nội bộ, chưa áp dụng đúng mẫu chứng từ chất thải nguy hại.

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI 3 BỆNH VIỆN VIỆT TIỆP, PHỤ SẢN, TRẺ EM

Tác giả đề xuất 2 nhóm giải pháp đồng bộ:

1. Phân định nhiệm vụ các bên liên quan

  • Cơ sở y tế: Chịu trách nhiệm toàn diện từ phát sinh đến tiêu hủy cuối cùng; lập đề án nâng cấp hạ tầng; trang bị phương tiện đạt chuẩn; tuân thủ nghiêm ngặt Quy chế Bộ Y tế và Thông tư 12/2006/TT-BTNMT.
  • Đơn vị thu gom, xử lý: Lập hồ sơ đăng ký cấp phép hành nghề vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại; tuân thủ quy trình kiểm soát rủi ro môi trường.
  • Sở Y tế Hải Phòng: Xây dựng quy hoạch mạng lưới xử lý chất thải y tế toàn thành phố; chủ trì đoàn thanh tra liên ngành phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường kiểm tra định kỳ 6 tháng/lần.
  • Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng: Giám sát các thông số phát thải, thẩm định và hướng dẫn kỹ thuật công nghệ xử lý môi trường.

2. Các giải pháp kỹ thuật và quản lý cụ thể

  • Quản lý nội viện: Ban hành quy chế kiểm tra, giám sát phân loại tại nguồn có gắn nhãn nhận diện từng khoa phòng; áp dụng cơ chế khen thưởng và chế tài xử phạt hành chính; thay thế toàn bộ bao bì chứa rác đạt chuẩn độ dày $\ge 0,1\text{ mm}$, có vạch mức $3/4$, logo cảnh báo chuẩn; dùng hộp kháng thủng chuyên dụng cho vật sắc nhọn; nâng cấp nhà lưu giữ đạt khoảng cách ly an toàn tối thiểu 10 m so với khu điều trị.
  • Khử khuẩn ban đầu và tái chế an toàn: Triển khai khử trùng bắt buộc chất thải lây nhiễm cao bằng dung dịch Cloramin B 1–2% hoặc Javen 1–2% tối thiểu 30 phút trước khi lưu kho; rửa và hấp khử khuẩn toàn bộ nhựa, thủy tinh y tế trước khi bán cho đơn vị tái chế.
  • Nâng cao năng lực nhân sự: Tổ chức đào tạo bắt buộc định kỳ về an toàn sinh học và phòng tránh tai nạn kim tiêm đâm cho đội ngũ hộ lý, công nhân vệ sinh.
  • Quy hoạch và pháp lý: Chuẩn hóa hệ thống chứng từ chất thải nguy hại liên ngành; xúc tiến quy hoạch đầu tư khu xử lý chất thải y tế tập trung công nghệ cao (lò đốt đa vùng nhiệt độ cao $1.050 - 1.100^\circ\text{C}$ có hệ thống lọc khí thải hoàn chỉnh) thay thế dần biện pháp chôn lấp.

Kết quả và đóng góp

  • Dữ liệu thực chứng chi tiết: Cung cấp bộ số liệu hoàn chỉnh về khối lượng phát sinh chất thải y tế thông thường và nguy hại theo từng tháng trong năm 2017 tại 3 bệnh viện lớn nhất Hải Phòng, xác định suất phát thải dao động từ $1,182$ đến $1,704\text{ kg/GB/ngày}$.
  • Chỉ ra các điểm nghẽn thực tế: Phát hiện tình trạng 100% túi chứa rác không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật về vạch báo và biểu tượng nguy hại; tỷ lệ cán bộ nhân viên được tập huấn quản lý chất thải còn thấp (chỉ từ 45% đến 60%); khâu khử khuẩn ban đầu tại buồng bệnh gần như bị bỏ qua; tỷ lệ tái chế tự phát từ 11,6% đến 13,9% chưa qua quy trình kiểm soát an toàn dịch tễ.
  • Đóng góp về quản lý: Khóa luận làm rõ lỗ hổng pháp lý trong khâu vận chuyển ngoài bệnh viện khi đơn vị thu gom duy nhất của thành phố chưa hoàn tất giấy phép hành nghề quản lý chất thải nguy hại theo Thông tư 12/2006/TT-BTNMT; đồng thời thiết lập sơ đồ phân công trách nhiệm 4 bên (Bệnh viện – Doanh nghiệp xử lý – Sở Y tế – Sở TN&MT) cùng quy trình chôn lấp có kiểm soát vi sinh bằng TOGAGEL và vôi bột.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Khảo sát giới hạn trong phạm vi 3 bệnh viện công lập lớn tại khu vực nội thành, chưa bao quát khối bệnh viện tuyến quận/huyện, trạm y tế xã phường và các phòng khám tư nhân trên toàn địa bàn Hải Phòng.
    • Số liệu thực nghiệm tập trung vào chất thải rắn; chưa tiến hành lấy mẫu phân tích độc học chuyên sâu đối với nước thải y tế và khí thải lò đốt tại các cơ sở.
  • Hướng mở rộng:
    • Mở rộng điều tra toàn diện mạng lưới y tế cơ sở và y tế tư nhân tại Hải Phòng.
    • Nghiên cứu đánh giá vòng đời (LCA) và tính khả thi kinh tế - kỹ thuật của mô hình xử lý chất thải y tế cụm liên viện ứng dụng công nghệ vi sóng/hấp nhiệt ướt không phát sinh khí thải Dioxin/Furan.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Giảng viên, sinh viên và học viên chuyên ngành Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Tài nguyên & Môi trường, Y tế Công cộng, Quản lý Bệnh viện.
    • Cán bộ phụ trách công tác kiểm soát nhiễm khuẩn và bảo vệ môi trường tại các cơ sở khám chữa bệnh; cán bộ thanh tra môi trường thuộc Sở Y tế và Sở Tài nguyên và Môi trường.
  • Nội dung tham khảo giá trị:
    • Phương pháp thu thập và xử lý số liệu phát thải chất thải rắn y tế theo quy mô giường bệnh và theo mùa.
    • Quy trình kỹ thuật chôn lấp chất thải nguy hại bằng chế phẩm vi sinh TOGAGEL kết hợp vôi bột tại bãi rác Tràng Cát.
    • Khung biểu mẫu và bảng tiêu chí kiểm tra, giám sát chất lượng dụng cụ phân loại rác nội viện.

Câu hỏi thường gặp

1. Khối lượng chất thải y tế thông thường và nguy hại phát sinh tại 3 bệnh viện khảo sát trong năm 2017 là bao nhiêu?
Khối lượng phát sinh trung bình CTYT thông thường tại Bệnh viện Việt Tiệp là 1.818 kg/ngày (1,704 kg/GB/ngày); Bệnh viện Phụ sản là 1.576 kg/ngày (1,504 kg/GB/ngày); Bệnh viện Trẻ em là 1.387 kg/ngày (1,182 kg/GB/ngày). Tổng khối lượng CTYT nguy hại phát sinh trong cả năm 2017 lần lượt là 41.188,4 kg (Việt Tiệp), 16.718,1 kg (Phụ sản) và 11.549,6 kg (Trẻ em).

2. Khâu phân loại và dụng cụ chứa rác tại 3 bệnh viện gặp những sai phạm kỹ thuật nào so với quy chế của Bộ Y tế?
100% túi đựng rác mua trên thị trường không có đường kẻ ngang ở mức 3/4 túi, không in dòng chữ "Không được đựng quá vạch này", không có biểu tượng chỉ loại chất thải nguy hại; túi mỏng dễ rách; rác thường xuyên bị đổ đầy quá mức 3/4; vật sắc nhọn đựng trong chai nhựa truyền dịch và hộp giấy tự tạo; việc phân loại chưa triệt để, để lẫn chất thải sắc nhọn và lây nhiễm vào rác tái chế và sinh hoạt.

3. Quy trình chôn lấp chất thải y tế nguy hại tại Khu liên hợp Tràng Cát sử dụng hóa chất và vật liệu theo định mức nào?
Chất thải y tế nguy hại được chôn tại các hố sâu 2,0 m, thể tích $10\text{ m}^3$, đáy lót 10 cm đất núi và $10\text{ m}^2$ vải nilon chống thấm. Định mức tiêu hao hóa chất gồm $1\text{ kg}$ chế phẩm vi sinh TOGAGEL/$m^3$ chất thải và $30\text{ kg}$ vôi bột/$m^3$ chất thải; sau mỗi $0,5\text{ m}^3$ rác được phủ một lớp đất dày 10–15 cm và lớp đất phủ bề mặt trên cùng dày 50 cm.

4. Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hải Phòng gặp bất cập pháp lý nào khi vận chuyển và xử lý chất thải y tế nguy hại?
Công ty chưa đăng ký chủ thu gom, vận chuyển và chưa được cấp giấy phép hành nghề quản lý chất thải nguy hại theo Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường; biên bản giao nhận giữa bệnh viện và công ty chỉ sử dụng phiếu khai nhận nội bộ, chưa đúng mẫu chứng từ quản lý chất thải nguy hại theo luật định.

5. Tỷ lệ nhân viên được tập huấn quản lý chất thải y tế tại các cơ sở điều tra đạt mức nào và nguyên nhân hạn chế là gì?
Tỷ lệ cán bộ nhân viên được tập huấn đạt 60% tại Bệnh viện Việt Tiệp, 50% tại Bệnh viện Phụ sản và 45% tại Bệnh viện Trẻ em. Nguyên nhân do thời gian tập huấn kéo dài, công nhân vệ sinh và hộ lý chưa nhận thức hết nguy cơ phơi nhiễm bệnh nghề nghiệp (như tai nạn kim tiêm đâm) và công tác đào tạo chưa được thực hiện mang tính bắt buộc gắn liền với chế tài quản lý.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Quang Huy đã phản ánh toàn diện bức tranh thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại 3 bệnh viện trọng điểm của thành phố Hải Phòng trong năm 2017. Nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết khối lượng phát sinh chất thải thông thường và nguy hại, đồng thời phát hiện nhiều hạn chế nghiêm trọng về tiêu chuẩn bao bì, quy trình phân loại nội viện và tính pháp lý của đơn vị vận chuyển, xử lý bên ngoài. Các giải pháp đề xuất có tính khả thi, phân định rõ trách nhiệm giữa bệnh viện, doanh nghiệp môi trường và các cơ quan quản lý nhà nước nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý chất thải y tế an toàn và bền vững cho đô thị.