Chương 1: Tổng quan về quản lý chất thải bệnh viện Chương 2: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả và đề xuất 1 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI BỆNH VIỆN 1. Khái niệm về Kế hoạch quản lý chất thải bệnh viện Kế hoạch quản lý chất thải bệnh viện là một bản miêu tả rõ về hiện trạng chất thải bệnh viện và thực trạng xử lý chất thải tại bệnh viện, các giải pháp cải thiện và xử lý chất thải. Kế hoạch được xây dựng nhằm hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện với mục tiêu bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Mục tiêu phát triển đề xuất là giảm ô nhiễm môi trường do chất thải y tế trong các bệnh viện ở Việt Nam, thông qua nâng cao vai trò điều hành của Chính phủ trong ban hành quy định, hỗ trợ triển khai, theo dõi và giám sát thực hành tốt quản lý chất thải y tế.
Phân loại chất thải bệnh viện 1.1 Chất thải rắn Tất cả chất thải phát sinh từ bệnh viện đều được coi là chất thải bệnh viện. Khoảng 75-90% chất thải bệnh viện là chất thải thông thường, tương tự như chất thải sinh hoạt, không có nguy cơ gì. Chất thải lây nhiễm chiếm khoảng 10-25% và được chia làm 4 nhóm sau đây [1] : - Chất thải lây nhiễm bao gồm chất thải sắc nhọn, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải bệnh phẩm, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao. - Chất thải hóa học, bao gồm các hóa chất thường dùng trong y tế, formaldehyde, hóa chất quang hình, kim loại nặng, chất thải dược phẩm và chất thải gây độc tế bào.
- Chất thải phóng xạ. - Bình chứa áp suất. Lượng CTR y tế phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh viện tùy thuộc số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng… Lượng chất thải nguy hại phát sinh được thể hiện ở bảng sau: 2 z Bảng 1. Mức độ phát sinh chất thải nguy hại trung bình Tổng lượng chất thải y tế nguy hại (kg/giường/ngày) Khoa BV TW BV Tỉnh BV Huyện Bệnh viện 0.11 Khoa hồi sức cấp 0.18 cứu Khoa nội 0.17 Khoa mắt/TMH 0.08 Khoa cận lâm sàng 0.03 Nguồn: Quy hoạch quản lý chất thải y tế, Bộ Y tế, 2009 1.2 Nước thải bệnh viện Nước thải từ các cơ sở y tế bao gồm nước thải phát sinh từ các hoạt động chăm sóc và sinh hoạt trong bệnh viện.
Nước thải này có thể chứa vi sinh vật, kim loại nặng, hóa chất độc, đồng vị phóng xạ, bên cạnh đó còn có nước mưa không chứa chất gây ô nhiễm. Mỗi bệnh viện có thể thải ra khoảng 0,4 – 0,95 m3 nước thải trên một giường bệnh trong ngày, tùy thuộc vào khả năng cấp nước, dịch vụ bệnh viện, số lượng bệnh nhân và người nhà [2]. Tuy nhiên, nồng độ chất thải rắn lơ lửng (SS), chất hữu cơ hòa tan được biểu thị bởi nhu cầu o xy sinh hóa (BOD 5) và các chất dinh dưỡng (như nitơ, phốt pho) trong nước thải bệnh viện có thể không cao như nước thải đô thị. Nồng độ BOD5 thay đổi từ 80-180 mg/l.
Lo ngại chủ yếu tập trung vào vi sinh vật gây bệnh đường ruột dễ dàng lây truyền qua nước. Nếu chất thải y tế không được quản lý tốt, nước thải bệnh viện còn chứa nhiều dược phẩm, hóa chất có thể ảnh hưởng xấu đến hiệu suất của công trình xử lý sinh học. Nhiều nghiên cứu về chất lượng của nước thải bệnh viện đã được thực hiện và các phát hiện chính được tóm tắt trong Bảng 1. Các thông số ô nhiễm trong nước thải Tổng Tổng Bệnh DO H2S BOD5 COD SS TT pH phopho Nitrogen viện (mg/l) (mg/l) (mg/l) (mg/l) (mg/l) (mg/l) (mg/l) 1 Theo tuyến 1.9 246 2 Theo chuyên khoa 2.3 Nguồn: theo Sổ tay hướng dẫn thực hiện dự án hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện ban hành kèm Quyết định số 2221/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Nguy cơ của chất thải y tế Chất thải rắn, nếu không được xử lý và tiêu hủy đúng cách có thể gây ra các tác động tiêu cực tới môi trường và sức khỏe con người như ở trên đã mô tả. Vận hành và bảo dưỡng kém lò đốt có thể dẫn đến xả ra khí thải chứa nhiều chất ô nhiễm như các kim loại nặng (chì, thủy ngân, cat-min), bụi, axid HCl, SO2, CO, NOx và cả dioxin/furans. Hai khảo sát do Viện Y học Lao động và Vệ sinh môi trường thực hiện năm 2003 và 2008 thấy rằng nồng độ dioxin trong khí thải lò đốt rác y tế cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép, và hầu hết các lò đốt đang thải ra khói đen gây ô nhiễm không khí trong quá trình vận hành. Tiêu hủy an toàn tro lò đốt cũng là một vấn đề bởi vì các chất gây ô nhiễm trong tro có thể là ô nhiễm đất và nguồn nước.
4 z Thu gom, xử lý, tiêu hủy nước thải và bùn thải không đúng cách có thể dẫn tới ô nhiễm nguồn nước bởi vi sinh vật gây bệnh, dẫn đến các bệnh lây truyền qua đường nước và lan truyền các bệnh do ký sinh trùng. Vận hành và bảo dưỡng kém là các vấn đề lớn nhất trong xử lý nước thải, cũng như việc tiêu hủy bùn không chính xác có thể dẫn đến ô nhiễm đất, nước mặt và nước ngầm. Các chất thải hóa học đổ vào trong hệ thống cống có thể có tác động không mong muốn tới vận hành của công trình xử lý sinh học hoặc gây độc đối với hệ sinh thái của nguồn tiếp nhận. Các vấn đề tương tự cũng xảy ra khi đổ xuống cống các chất thải dược phẩm bao gồm kháng sinh, kim loại nặng như thủy ngân, phenol, chất dẫn xuất, hóa chất khử trùng [16].1 Nguy cơ đối với sức khỏe Phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại có thể gây ra bệnh tật hoặc thương tích.
Tất cả các cá nhân phơi nhiễm với chất thải nguy hại, cả những người ở trong hay ở ngoài bệnh viện đều có nguy cơ tiềm ẩn. Những nhóm có nguy cơ bao gồm: 1. Nhân viên y tế: bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên 2. Người nhà và khách thăm 4.
Công nhân làm việc trong khối hỗ trợ như thu gom, vận chuyển rác, giặt là; 5. Công nhân trong cơ sở xử lý và tiêu hủy chất thải (như bãi rác hoặc lò đốt), bao gồm cả những người nhặt rác.2 Nguy cơ các vi khuẩn gây bệnh Với hầu hết mọi người trong chúng ta, thì các vi khuẩn gây bệnh là mối đe dọa lớn nhất từ môi trường đối với sức khỏe. Chúng ta cần nhận biết và luôn cảnh giác với các nguy cơ sinh học do mối đe dọa của chúng ta đối với đa số dân số trên hành tinh. Hiện nay có nhiều dịch bệnh do vi khuẩn gây ra bệnh hàng loạt, chúng ta phải khổ sở phòng và chữa bệnh.
Một số bệnh truyền nhiễm và ký sinh thường gặp Số ca mới mỗi Bệnh Số tử vong hàng năm năm Hô hấp (bao gồm viêm phổi, lao, 1 tỷ 5 – 7 triệu cúm và ho) Tiêu chảy 1 tỷ 5 triệu Sốt rét 500 triệu 2 triệu Sởi 200 triệu 2 triệu AIDS 2 triệu 1 triệu Uốn ván 1 triệu 600.000 Bại liệt 2 triệu 200.3 Nguy cơ của chất thải hóa học và dược phẩm Nhiều hóa chất và dược phẩm sử dụng trong cơ sở y tế là chất nguy hại (ví dụ chất gây độc, ăn mòn, dễ cháy, gây phản ứng, gây sốc, gây độc) nhưng thường ở khối lượng thấp. Phơi nhiễm cấp tính hoặc mãn tính đối với hóa chất qua đường da niêm mạc, qua đường hô hấp, tiêu hóa. Tổn thương da, mắt và niêm mạc đường hô hấp có thể gặp khi tiếp xúc với hóa chất gây cháy, gây ăn mòn, gây phản ứng (ví dụ formaldehyde và các chất dễ bay hơi khác). Tổn thương thường gặp nhất là bỏng.
Các hóa chất khử trùng được sử dụng phổ biến trong bệnh viện thường có tính ăn mòn. Trong quá trình thu gom, vận chuyển và lưu giữ, chất thải nguy hại có thể bị rò thoát, đổ tràn. Việc rơi vãi chất thải lây nhiễm, đặc biệt là chất thải lây nhiễm có nguy cơ cao có thể lan truyền bệnh trong bệnh viện, như có thể gây ra đợt bùng phát nhiễm trùng bệnh viện trong nhân viên và bệnh nhân, hoặc gây ô nhiễm đất và nước.4 Nguy cơ của chất thải gây độc tế bào Nhiều thuốc điều trị ung thư là các thuốc gây độc tế bào. Chúng có thể gây kích thích hay gây tổn thương cục bộ trên da và mắt, cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da.
Nhân viên bệnh viện, đặc biệt là những người chịu trách nhiệm thu gom chất thải, có thể phơi nhiễm với các thuốc điều trị ung thư qua hít thở hoặc hạt lơ lửng trong không khí, hấp thu qua da, tiêu hóa qua thực phẩm vô tình nhiễm bẩn với thuốc gây độc tế bào.5 Nguy cơ của chất thải phóng xạ Cách thức và thời gian tiếp xúc với chất thải phóng xạ quyết định những tác động đối với sức khỏe, từ đau đầu, chóng mặt, buồn nôn cho đến các vấn đề đột biến gen trong dài hạn.6 Nguy cơ đối với môi trường nước Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do các chất độc hại có trong chất thải bệnh viện. Chúng có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh. Chúng có thể chứa kim loại nặng, phần lớn là thủy ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng rửa phim X quang. Một số dược phẩm nhất định, nếu xả thải mà không xử lý có thể gây nhiễm độc nguồn nước cấp.
Bên cạnh đó, việc xả thải bừa bãi chất thải lâm sàng, ví dụ xả chung chất thải lây nhiễm vào chất thải thông thường, có thể tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước do làm tăng BOD.7 Nguy cơ đối với môi trường đất Tiêu hủy không an toàn chất thải nguy hại như tro lò đốt hay bùn của hệ thống xử lý nước thải rất có vấn đề khi các chất gây ô nhiễm từ bãi rác có khả năng rò thoát ra, gây ô nhiễm đất và nguồn nước, và cuối cùng là tác động tới sức khỏe cộng đồng trong dài hạn.8 Nguy cơ đối với môi trường không khí Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải nguy hại được thiêu đốt trong điều kiện không lý tưởng. Việc thiêu đốt không đủ nhiệt độ trong khi rác thải đưa vào quá nhiều sẽ gây ra nhiều khói đen.