Tổng quan nghiên cứu

Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức là trung tâm phẫu thuật ngoại khoa tuyến cuối lớn nhất miền Bắc với diện tích khuôn viên 35.000 m2 và quy mô thực tế hơn 1.800 giường bệnh. Hàng năm, bệnh viện tiếp nhận khoảng 200.000 lượt khám, điều trị nội trú hơn 35.000 bệnh nhân và thực hiện trên 28.000 đến 35.000 ca phẫu thuật chuyên sâu phức tạp. Đặc thù ngoại khoa chuyên biệt khiến khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh mỗi tháng lên tới 25 đến 27 tấn chất thải nguy hại, chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số 600.000 kg chất thải y tế nguy hại phát sinh hàng năm của toàn hệ thống y tế thành phố Hà Nội. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là đánh giá khách quan, toàn diện chuỗi hoạt động quản lý chất thải rắn y tế từ nguồn phát sinh tại buồng bệnh, khâu thu gom, phân loại, lưu giữ nội viện cho đến quy trình bàn giao xử lý cuối cùng, nhằm hạn chế tối đa nguy cơ lây nhiễm chéo và ô nhiễm môi trường đô thị. Đề tài xác định hai mục tiêu cụ thể: phân tích định lượng thực trạng phát sinh cùng hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế, đồng thời xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản trị môi trường y tế tại cơ sở. Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi toàn bộ 18 khoa lâm sàng và 9 khoa cận lâm sàng của bệnh viện trong giai đoạn từ tháng 10/2015 đến tháng 12/2016. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp bộ chỉ số thực nghiệm chính xác với định mức phát sinh chất thải nguy hại bình quân đạt 13,71 kg/giường bệnh/tháng (tương đương khoảng 0,45 kg/giường bệnh/ngày), tạo lập cơ sở dữ liệu tin cậy cho công tác hoạch định chi phí và chuẩn hóa mô hình quản lý chất thải tại các bệnh viện chuyên khoa tuyến trung ương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên lý thuyết Quản lý chất thải rắn tích hợp (Integrated Solid Waste Management - ISWM) kết hợp mô hình Thứ bậc quản lý chất thải (Waste Hierarchy) và khung đánh giá rủi ro sinh thái y tế. Nghiên cứu tập trung làm rõ 5 nhóm khái niệm cốt lõi: chất thải lây nhiễm (bao gồm chất thải sắc nhọn, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao và chất thải giải phẫu), chất thải hóa học nguy hại (chất gây độc tế bào, kim loại nặng, dược phẩm quá hạn), chất thải phóng xạ, bình chứa áp suất và chất thải y tế thông thường (phục vụ tái chế và không tái chế). Cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật được vận dụng xuyên suốt đề tài gồm có: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 quy định về quản lý chất thải y tế, Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT về quản lý chất thải nguy hại và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 02:2012/BTNMT về lò đốt chất thải rắn y tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp (báo cáo hoạt động bệnh viện, báo cáo quan trắc môi trường định kỳ các năm 2015 - 2016) và dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp tại thực địa. Cỡ mẫu điều tra xã hội học được tính toán theo công thức chuẩn xác định tỷ lệ trong nghiên cứu mô tả cắt ngang với mức ý nghĩa alpha = 0,05, độ lệch chuẩn Z = 1,96 và sai số biên d = 0,05, xác định cỡ mẫu n = 300 đối tượng. Cấu trúc mẫu khảo sát bao gồm 150 cán bộ nhân viên y tế (bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ lý, vệ sinh viên) và 150 bệnh nhân cùng người nhà bệnh nhân nội trú từ 2 ngày trở lên. Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật ngẫu nhiên hệ thống (chọn ngẫu nhiên 25% nhân viên tại mỗi khoa phòng và tính khoảng cách chọn mẫu đối với bệnh nhân nội trú) kết hợp chọn mẫu chủ đích toàn bộ hộ lý làm việc trực tiếp tại khâu thu gom rác. Khối lượng chất thải rắn y tế được đo lường chính xác bằng cân bàn kỹ thuật định kỳ hàng ngày tại kho lưu giữ từ tháng 10/2015 đến tháng 11/2016 với sự phối hợp của Công ty Cổ phần Môi trường Đô thị và Công nghiệp 10 (Urenco 10). Phương pháp đánh giá thực trạng sử dụng bảng kiểm tiêu chí định lượng theo thang điểm ma trận chuyển giao (5 điểm cho tiêu chí chính, 3 điểm cho tiêu chí phụ), giúp lượng hóa khách quan mức độ tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật tại từng công đoạn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổng lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đạt mức rất lớn, trung bình dao động từ 25 đến 27 tấn mỗi tháng, đồng thời lượng chất thải thông thường phát sinh ổn định ở mức 4,5 tấn mỗi ngày. Trong cơ cấu chất thải nguy hại, chất thải lây nhiễm chiếm tỷ trọng áp đảo với khối lượng trung bình 23,37 tấn/tháng (chiếm 92,4%), trong khi chất thải hóa học nguy hại chiếm khoảng 1,91 tấn/tháng (chiếm 7,6%).

Thứ hai, định mức phát sinh chất thải nguy hại tính trên giường bệnh đạt trung bình 13,71 kg/giường bệnh/tháng. Nghiên cứu ghi nhận sự biến động rõ rệt giữa các thời điểm trong năm: tháng 2 có khối lượng phát sinh thấp nhất với 25.281 kg (tương ứng 12,29 kg/giường/tháng với 1.450 giường hoạt động do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài), trong khi tháng 7 đạt đỉnh cao nhất với 27.876 tấn (tương ứng 14,08 kg/giường/tháng với 1.820 giường điều trị nội trú), chênh lệch tăng hơn 10,2% so với tháng thấp điểm.

Thứ ba, công tác phân loại và thu gom tại nguồn đạt tỷ lệ tuân thủ cao tại khu vực phòng mổ và buồng thủ thuật với 100% vật sắc nhọn được phân lập trong hộp kháng thủng chuyên dụng màu vàng. Toàn bộ lượng chất thải nguy hại sau thu gom được tập kết tại kho lưu giữ và bàn giao hàng ngày cho đơn vị chuyên trách xử lý đạt tỷ lệ 100%, không để tồn đọng quá 72 giờ theo quy chế.

Thảo luận kết quả

Khối lượng chất thải lây nhiễm chiếm tỷ trọng vượt trội tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức xuất phát từ bản chất chuyên khoa ngoại phẫu thuật chuyên sâu, nơi thực hiện hàng chục nghìn ca mổ lớn mỗi năm, tiêu tốn lượng lớn vật tư tiêu hao như găng tay, bông băng dính máu, dây truyền dịch và mô bệnh phẩm. Khi đối chiếu với định mức phát sinh chất thải nguy hại tại các bệnh viện tuyến trung ương trên toàn quốc (dao động 0,5 - 1,7 kg/giường/ngày) và tuyến tỉnh (0,4 - 1,3 kg/giường/ngày), chỉ số phát sinh tại Bệnh viện Việt Đức (khoảng 0,45 - 0,55 kg/giường/ngày đối với chất thải nguy hại) nằm trong ngưỡng hợp lý nhưng đòi hỏi hạ tầng thu gom liên tục.

Về phương thức biểu diễn dữ liệu, sự phân bố tải lượng chất thải lây nhiễm và chất thải hóa học theo chuỗi thời gian 12 tháng được minh họa trực quan qua biểu đồ đường thẳng đa biến và bảng thống kê đối chiếu số giường bệnh. Biểu đồ chỉ ra tương quan tuyến tính chặt chẽ giữa mật độ giường bệnh thực kê và thể tích chất thải lây nhiễm phát sinh. Bên cạnh những điểm tích cực, khảo sát cho thấy vẫn tồn tại hạn chế trong nhận thức của một bộ phận người nhà bệnh nhân khi tỷ lệ bỏ lẫn rác sinh hoạt vào thùng rác y tế màu vàng vẫn còn xảy ra cục bộ tại một số buồng bệnh đông người.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu định kỳ hàng quý và kiểm tra sát hạch bắt buộc đối với 100% nhân viên y tế, điều dưỡng, hộ lý cùng đội ngũ vệ sinh viên công nghiệp, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ phân loại rác chính xác tại nguồn lên trên 98% ngay trong quý 2 năm 2018 (Chủ thể thực hiện: Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn phối hợp với Phòng Điều dưỡng).

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng và trang bị bổ sung đầy đủ phương tiện thu gom đạt chuẩn bằng cách thay thế 100% thùng đựng rác đạp chân có nắp kín, đúng 4 mã màu quy định tại tất cả 18 khoa lâm sàng; đồng thời cải tạo nhà lưu giữ chất thải tập trung, lắp đặt thêm hệ thống bảo quản lạnh chuyên dụng dưới 8 độ C để đảm bảo an toàn tuyệt đối khi lưu trữ chất thải lây nhiễm đến 72 giờ trong điều kiện thời tiết mùa hè (Chủ thể thực hiện: Phòng Quản trị và Ban Giám đốc bệnh viện, hoàn thành trong năm 2018).

Thứ ba, thiết lập quy trình kiểm toán rác thải nội bộ và số hóa dữ liệu giao nhận thông qua việc áp dụng cân điện tử gắn mã khoa phòng, phối hợp giám sát chặt chẽ đường vận chuyển rác chuyên biệt nhằm loại bỏ hoàn toàn 100% tình trạng thất thoát hoặc rò rỉ rác thải nguy hại ra môi trường (Chủ thể thực hiện: Tổ Quản lý chất thải thuộc Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn phối hợp Phòng Bảo vệ chính trị nội bộ).

Thứ tư, tái cơ cấu nguồn tài chính vận hành dịch vụ môi trường bằng việc tính toán bổ sung chi phí xử lý chất thải y tế vào cơ cấu giá thành giường bệnh, đồng thời tăng 10% đến 15% ngân sách hàng năm để trang bị phương tiện phòng hộ cá nhân đạt chuẩn cho công nhân vệ sinh trực tiếp tiếp xúc với nguồn thải (Chủ thể thực hiện: Phòng Tài chính - Kế toán, áp dụng từ kỳ ngân sách năm 2018).

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Ban Giám đốc và cán bộ chuyên trách kiểm soát nhiễm khuẩn tại 55 bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng như các đô thị lớn, sử dụng tài liệu để chuẩn hóa quy trình phân loại rác tại nguồn và tổ chức hệ thống lưu giữ đạt chuẩn Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT.

Thứ hai, các đơn vị và doanh nghiệp cung ứng dịch vụ môi trường đô thị (như Urenco 10, Urenco 2) nhằm tham khảo số liệu định mức phát sinh theo mùa, từ đó tối ưu hóa lộ trình xe chuyên dụng và điều phối công suất lò đốt nhiệt độ cao trên 1.050 độ C.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên sau đại học thuộc khối ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Đô thị và Y tế Công cộng, khai thác mô hình nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp điều tra mẫu Cochran 300 đối tượng và phương pháp cân đo thực địa để thực hiện các nghiên cứu so sánh chuyên sâu.

Thứ tư, các chuyên viên hoạch định chính sách tại Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường, sử dụng làm bằng chứng thực tiễn để đánh giá tác động chính sách, rà soát định mức kinh tế kỹ thuật và hoàn thiện các quy chuẩn quốc gia về quản lý chất thải bệnh viện ngoại khoa.

Câu hỏi thường gặp

Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh hàng tháng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức là bao nhiêu? Theo kết quả đo đạc thực nghiệm 12 tháng, bệnh viện phát sinh bình quân từ 25 đến 27 tấn chất thải nguy hại mỗi tháng, tương đương khoảng 1 tấn mỗi ngày. Trong đó, chất thải lây nhiễm chiếm trên 92% (trung bình 23,37 tấn/tháng) và chất thải hóa học nguy hại chiếm khoảng 1,91 tấn/tháng, bình quân đạt 13,71 kg/giường bệnh/tháng.

Bệnh viện áp dụng tiêu chuẩn pháp lý nào để phân loại chất thải y tế? Hoạt động phân loại chất thải tại bệnh viện tuân thủ nghiêm ngặt Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT và Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT. Hệ thống phân loại chia làm 4 nhóm mã màu: màu vàng cho chất thải lây nhiễm, màu đen cho chất thải hóa học nguy hại, màu xanh cho chất thải thông thường và màu trắng cho chất thải tái chế.

Quy trình tiền xử lý chất thải có nguy cơ lây nhiễm trước khi bàn giao được thực hiện ra sao? Các dụng cụ có thể tái chế như bơm tiêm và dây truyền dịch được khử khuẩn ban đầu bằng phương pháp hấp ướt ở nhiệt độ 121 độ C trong thời gian 20 phút. Hộp kháng thủng đựng chất thải sắc nhọn được khử khuẩn bằng dung dịch Javen nồng độ 1% trước khi chuyển đến khu lưu giữ tập trung để bàn giao cho đối tác xử lý.

Phương pháp nào được sử dụng để xác định quy mô mẫu điều tra trong luận văn? Tác giả áp dụng công thức chọn mẫu ngẫu nhiên của Cochran cho nghiên cứu mô tả với độ tin cậy 95% và sai số biên 5%, xác định cỡ mẫu chuẩn gồm 300 người. Mẫu được phân tầng đều cho 150 nhân viên y tế (chọn ngẫu nhiên hệ thống 25% nhân sự mỗi khoa) và 150 bệnh nhân hoặc người nhà điều trị nội trú từ 2 ngày trở lên.

Đơn vị nào chịu trách nhiệm vận chuyển và xử lý chất thải cuối cùng cho bệnh viện? Toàn bộ chất thải y tế nguy hại được bàn giao hàng ngày cho Công ty Cổ phần Môi trường Đô thị và Công nghiệp 10 (Urenco 10) để xử lý bằng phương pháp thiêu đốt và hấp sấy công nghệ cao. Chất thải thông thường không tái chế được chuyển giao cho Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội - Chi nhánh Hoàn Kiếm (Urenco 2) để xử lý chôn lấp hợp vệ sinh.

Kết luận

  • Tổng lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức rất lớn, duy trì ở mức 25 đến 27 tấn/tháng, trong đó chất thải lây nhiễm chiếm tỷ trọng chủ đạo trên 92%.
  • Định mức phát sinh chất thải nguy hại bình quân đạt 13,71 kg/giường bệnh/tháng, có sự phân hóa rõ giữa mùa thấp điểm tháng 2 (12,29 kg/giường) và đỉnh điểm tháng 7 (14,08 kg/giường).
  • Công tác phân loại, thu gom và cô lập chất thải sắc nhọn tại các khoa lâm sàng đạt tỷ lệ tuân thủ cao, đảm bảo 100% chất thải nguy hại được vận chuyển trong ngày bằng xe chuyên dụng.
  • Khảo sát thực địa trên 300 đối tượng khẳng định nhân viên y tế có nhận thức và kỹ hành tốt, tuy nhiên công tác truyền thông cho người nhà bệnh nhân cần tiếp tục được tăng cường.
  • Chuỗi hợp tác xử lý ngoại viện giữa bệnh viện với các đơn vị Urenco 10 và Urenco 2 được thực hiện chuyên nghiệp, xử lý triệt để 100% nguồn thải theo đúng quy chuẩn môi trường quốc gia.

Đóng góp trọng tâm của luận văn là đã cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về dòng chất thải y tế ngoại khoa và đề xuất 4 nhóm giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý chất thải bệnh viện. Trong lộ trình 2018 - 2020, bệnh viện cần ưu tiên đầu tư kho lạnh bảo quản và số hóa quy trình kiểm toán chất thải. Các nhà quản lý y tế và chuyên gia môi trường hãy chủ động tham khảo mô hình nghiên cứu này để tối ưu hóa công tác quản trị chất thải tại đơn vị mình.