Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức và khai thác lễ hội dân gian cho mục đích du lịch. Chương 2: Thực trạng tổ chức và khai thác lễ hội dân gian trong phát triển du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 - 2013. Chương 3: Định hƣớng tổ chức, khai thác lễ hội dân gian trong phát triển du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và các giải pháp thực hiện. 13 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ KHAI THÁC LỄ HỘI DÂN GIAN CHO MỤC ĐÍCH DU LỊCH 1.
Các khái niệm và quan niệm 1. Lễ hội dân gian Về tên gọi, hiện tƣợng lễ hội xuất phát từ hội làng – là đám đông dân làng hội tụ - để thực hiện nghi lễ, cúng tế ở đình làng. Cùng với cuộc cúng tế, đám đình diễn ra vui vẻ náo nhiệt đƣợc gọi chung là “hội hè đình đám” - “lễ hội” ngày nay. Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồng, diễn ra trong chu kỳ không gian và thời gian nhất định để tiến hành các nghi thức mang tính biểu trƣng về sự kiện của nhân vật đƣợc thờ cúng, là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con ngƣời với thiên nhiên, thần thánh và con ngƣời trong xã hội nhằm thể hiện ƣớc vọng của con ngƣời, để vui chơi và giải trí.
Lễ hội là những hoạt động, những sinh hoạt văn hóa mà ở đó có sự gắn kết không thể tách rời của cả nội dung và hình thức của hai thành tố cơ bản là lễ và hội. Lễ nhằm biểu thị sự kính trọng thể hiện trong những mối quan hệ xã hội giữa ngƣời và ngƣời, giữa ngƣời và thế giới tự nhiên. Về mặt hình thái, lễ là hệ thống những hành vi, nghi thức có tính chất phổ biến, đƣợc quy định một cách nghiêm nghặt nhằm biểu hiện sự tôn kính của con ngƣời với thần linh, tạ ơn thần thánh đã phù hộ và cầu xin tiếp tục phù hộ, đồng thời phản ánh những ƣớc mơ chính đáng của con ngƣời trƣớc cuộc sống mà bản thân họ chƣa có khả năng thực hiện. Đây là phần thiêng, là gốc rễ, là chủ đạo mang nặng yếu tố tâm linh, và có tính ổn định.
Hội là cuộc vui, là sinh hoạt văn hóa nghệ thuật bắt nguồn từ nhu cầu vui chơi giải trí để giải tỏa về tinh thần và thể xác của con ngƣời nông nghiệp sau những ngày lao động mệt nhọc, và lòng khao khát đƣợc sự đồng cảm với cộng đồng. Hội thiêng về đời thƣờng, vui chơi, giải trí để chúc mừng thần linh và hƣởng thụ ân lộc của thần linh ban tặng nên Hội bao giờ cũng sôi động, vui vẻ. Hội là phần phái sinh, không ổn định và có thể thay đổi nhƣ chính sự sôi động vốn có của đời thƣờng. 14 Hai yếu tố lễ và hội không tách rời nhau, hòa quyện vào nhau thành một thể thống nhất làm nên hiện tƣợng “lễ hội”.
Ngoài ra trong lễ hội còn có các thành tố khác nhƣ hệ thống các tục hèm, các trò diễn dân gian. Các thành tố này luôn gắn kết, hỗ trợ lẫn nhau và luôn vận hành quanh trục trung tâm để đạt đƣợc mục tiêu nhất định nhằm phục vụ lợi ích của cả cộng đồng. Theo Quy chế tổ chức lễ hội năm 2001, các lễ hội đƣợc chia ra các loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo và lễ hội du nhập từ nƣớc ngoài vào Việt Nam. Đến năm 2009, cách phân loại lễ hội và định nghĩa các loại hình lễ hội của các cơ quan quản lý nhà nƣớc đã có sự điều chỉnh tại Thông tƣ số 04/2009/TT-BVHTTDL ngày 16/12/2009.
Theo đó, lễ hội bao gồm các loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử - cách mạng, lễ hội văn hoá - thể thao - du lịch, lễ hội có nguồn gốc từ nƣớc ngoài tổ chức tại Việt Nam. Tuy cách phân loại lễ hội qua thời gian có khác nhau nhƣng đều xác định rõ loại hình lễ hội dân gian. Đây là loại hình lễ hội đóng vai trò quan trọng đối với việc bảo lƣu và phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc. Theo thông tƣ trên, lễ hội dân gian “là lễ hội đƣợc tổ chức nhằm tôn vinh ngƣời có công với nƣớc, với cộng đồng; thờ cúng thần thánh, biểu tƣợng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngƣỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức xã hội”.
[7] Tác giả Dƣơng Văn Sáu cho rằng, những lễ hội có từ trƣớc năm 1945 đƣợc gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau nhƣ: lễ hội cổ truyền, lễ hội dân gian, lễ hội truyền thống, lễ hội dân gian truyền thống. còn những lễ hội ra đời sau năm 1945 đƣợc gọi là lễ hội hiện đại.[23] Theo tác giả Huỳnh Quốc Thắng, lễ hội dân gian là một thuật ngữ dùng để chỉ một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến có thể tổng hợp nhiều loại hình văn hóa dân gian khác nhau qua hình thức cảnh diễn hóa (spectaculariser) tại một địa điểm, một thời gian nhất định bằng những nghi thức, nghi vật, nghi trƣợng đặc trƣng xoay quanh hai nội dung cơ bản, đó là lễ và hội. Lễ hội dân gian tồn tại và phát triển theo xu hƣớng truyền thống hóa (lễ hội dân gian truyền thống hoặc lễ hội truyền thống), cổ điển hóa (lễ hội cổ truyền) hoặc hiện đại hóa (lễ hội mới, 15 festival. Và theo cấp độ tổ chức và quy mô xã hội có thể phân loại lễ hội dân gian thành lễ hội gia đình, lễ hội làng và vùng, lễ hội quốc gia - dân tộc, trong đó lễ hội làng là loại hình lễ hội điển hình và có vị trí chủ đạo trong hệ thống lễ hội cổ truyền ở nƣớc ta .[28] Tác giả Cao Đức Hải lại cho rằng, lễ hội truyền thống có thể đƣợc hiểu nhƣ lễ hội cổ truyền.
Lễ hội cổ truyền (hay lễ hội dân gian cổ truyền) là những lễ hội đƣợc hình thành trong lịch sử từ xa xƣa truyền lại trong các cộng đồng nông nghiệp với tƣ cách một phong tục. Lễ hội dân gian chỉ những lễ hội đƣợc sáng tạo và đƣợc lƣu truyền theo phƣơng thức dân gian, và do lễ hội cổ truyền ở nƣớc ta chủ yếu là lễ hội dân gian nên cụm từ lễ hội dân gian và lễ hội cổ truyền đƣợc sử dụng với cách hiểu tƣơng đƣơng. [11] Nhƣ vậy, lễ hội dân gian hay lễ hội cổ truyền, lễ hội truyền thống, lễ hội dân gian truyền thống là lễ hội gắn với tín ngƣỡng dân gian Việt Nam, đƣợc tổ chức trong không gian và thời gian xác định nhằm tôn vinh, tƣởng nhớ công lao của thần thánh, tổ tiên, tổ nghề, những ngƣời có công với nƣớc, với làng và với cộng đồng dân tộc. Lễ hội đƣợc cộng đồng tự giác thực hiện các nghi lễ và là ngày vui chung của cả cộng đồng, thể hiện đạo lý uống nƣớc nhớ nguồn, cách ứng xử của cộng đồng với thần thánh, tổ tiên và những anh hùng của nƣớc, của làng.
Nếu lễ tết phân bổ theo thời gian thì lễ hội phân bố theo không gian. Không gian tổ chức lễ hội dân gian là không gian của các khu di tích, đình, đền, chùa,. ở khắp các vùng miền trên cả nƣớc. Đây là không gian thiêng của lễ hội.
Di tích là dấu hiệu và truyền thống đƣợc đọng lại ở dạng cứng, còn lễ hội ở di tích là cái hồn, chuyển tải truyền thống ở dạng mềm. Di tích lịch sử và văn hóa là những dấu ấn của một thời đại, là những tấm gƣơng của lịch sử, phản ảnh trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của thời đại. Tổ chức lễ hội Công tác tổ chức lễ hội đƣợc hiểu nhƣ sự huy động các nguồn lực và tổ chức, điều hành các nguồn lực tạo ra lễ hội nhằm “Tƣởng nhớ công đức các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá, các liệt sỹ, các bậc tiền bối đã có công xây dựng và bảo vệ 16 Tổ quốc; Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; Đáp ứng nhu cầu văn hoá, tín ngƣỡng, tham quan các di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, công trình kiến trúc nghệ thuật, cảnh quan thiên nhiên và các nhu cầu chính đáng khác của nhân dân” [8]. Đây đƣợc xem là một loại công việc, một công nghệ hay một phƣơng pháp bao gồm cả quá trình nhƣ: xác định mục đích, quy mô tổ chức lễ hội; lập kế hoạch tổ chức; tổ chức, dàn dựng lễ hội; và giai đoạn kết thúc lễ hội.
Công tác này do tổ chức có đầy đủ tƣ cách pháp nhân đƣợc cấp phép tổ chức lễ hội. Công tác tổ chức lễ hội đòi hỏi tổ chức, cá nhân - đƣợc giao trách nhiệm chính trong việc huy động - kết nối - tổ chức và điều hành các nguồn lực để tổ chức lễ hội bởi mục tiêu đã đƣợc xác định trƣớc - cần có kiến thức tổng hợp về lĩnh vực quản lý, kinh tế, truyền thông, xã hội và văn hóa,. đồng thời phải có năng lực tổ chức và điều hành, năng động, có khả năng thiết lập mối quan hệ tốt, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng xử lý tình huống. Những lễ hội đƣợc đầu tƣ, chú trọng trong công tác tổ chức từ khâu đầu tiên đến khâu kết thúc, lƣu ý đến các giải pháp quy định rõ trách nhiệm của ngƣời quản lý, tổ chức lễ hội, xác định đúng mức về quy mô, tuyên truyền về ý thức của ngƣời tham gia lễ hội, đặc biệt là thái độ và hành vi ứng xử văn hóa khi tham dự lễ hội, hạn chế các hiện tƣợng tiêu cực nhƣ mê tín dị đoan, cảnh quan môi trƣờng, an ninh trật tự,.sẽ đáp ứng nhu cầu hƣởng thụ văn hóa tín ngƣỡng của nhân dân địa phƣơng và du khách thập phƣơng, khẳng định giá trị truyền thống văn hóa địa phƣơng, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ, du lịch.
Khai thác lễ hội cho mục đích du lịch: Cùng với tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn là một trong những điều kiện đặc trƣng cho việc phát triển du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phƣơng.