PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Qua hơn 30 năm thực hiện đổi mới, ngành NN của nước ta đạt được những kết quả đáng kể, sản phẩm NN gia tăng giá trị nhiều lần, sản lượng hàng hóa nông sản ngày càng đa dạng, thu nhập của người nông dân được cải thiện. NN Việt Nam được xem là một ngành ưu tiên phát triển của quốc gia và cũng là lĩnh vực có nhiều lợi thế trong hợp tác quốc tế. Với xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam với thế giới đã mở ra cho đất nước ta nhiều cơ hội xen lẫn các thách thức, nhất là trong lĩnh vực NN.
[12] Với những chính sách thúc đẩy chuyển dịch CCKT NN theo hướng CNH, HĐH giúp cho ngành NN nước ta đã đạt được kết quả tăng trưởng nhanh và bền vững trong một khoảng thời gian dài, trong đó, các ngành chăn nuôi, thủy sản, trồng trọt, lâm nghiệp đều có tốc độ phát triển đáng kể. Đến năm 2019, ngành NN nước ta vẫn tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, nhiều chỉ tiêu quan trọng của ngành đều đạt và vượt so với nghị quyết mà Đảng, Nhà nước ta đã đề ra. Theo đó, năm 2019, ngành NN cả nước có tốc độ tăng trưởng GDP đạt 7,02%, trong đó khu vực nông, lâm và thủy sản tăng 2,01%, đóng góp 4,6% vào tăng trưởng chung. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản có những bước tiến vượt bậc.
Năm 1986, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản chỉ đạt 400 triệu USD; đến năm 2007 đạt tới 12 tỷ USD; năm 2017 đạt hơn 36 tỷ USD và năm 2019 đạt 41,3 tỷ USD, tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới 54%; tỷ lệ che phủ rừng 41,85%, thặng dư thương mại đạt mức cao 10,4 tỷ USD, tăng 19,3% so với năm 2016. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao như gạo, cà-phê, cao-su, hạt điều, hồ tiêu, gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản., đứng nhóm hàng đầu thế giới. [31] CCKT nội ngành chuyển dịch đúng hướng, mang lại nhiều kết quả đáng kể. Ngành NN dần chuyển nhanh sang hướng sản xuất NN hàng hóa, tăng nhanh giá trị sản phẩm NN, đảm bảo an ninh lương thực và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu.
[31] Việc chuyển dịch CCKT ngành NN theo một hướng phù hợp, tích cực, hợp lý với xu hướng phát triển của nền kinh tế. Song song đó, cơ chế chính sách có tính đột phá như: cơ chế khoán, phát triển kinh tế nông hộ, đổi mới mô hình sản xuất, là một trong 1 những nội dung quan trọng của quá trình CNH, HĐH đất nước được triển khai khá rộng rãi. Trước những yêu cầu ngày càng cao của con người thì sản phẩm NN cần phải có chất lượng hơn, an toàn hơn cho người tiêu dùng. Đồng thời, khi Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới thì việc chuyển dịch CCKT NN càng trở nên cấp thiết.
[2] Tuy nhiên, CCKT NN ở nước ta còn bất hợp lý, hiện nay sản xuất NN còn tình trạng nhỏ lẻ, manh mún, sản xuất đạt hiệu quả thấp, sức cạnh tranh chưa cao, dẫn tới chưa khai thác hết mọi tiềm năng của đất nước. Với nguyên nhân đó thì việc phát triển nông nghiệp là cần phải tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn; vì vậy để góp phần làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách thì việc làm rõ các luận cứ khoa học về xu hướng phát triển kinh tế ngành nông nghiệp của nước ta theo hướng CNH, HĐH trong điều kiện hiện nay là rất quan trọng. [2] “Huyện Cầu Kè nằm phía Tây Bắc của tỉnh Trà Vinh, cách trung tâm Thành phố TÀI LIỆU SỐ HÓA PHỤC VỤ TRUY CẬP NỘI BỘ Trà Vinh 41 km, huyện có diện tích 245 km² và dân số là 116.568 người trong độ tuổi lao động với 53.818 người sống bằng nghề nông nghiệp (chiếm 83,35% số người trong độ tuổi lao động), về hành chính huyện Cầu Kè bao gồm 01 thị trấn và 10 xã. Ngoài những giồng cát có địa hình cao đặc trưng, địa hình của huyện tương đối bằng phẳng do mang tính chất chung của vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Chỉ riêng vùng dọc theo Sông Hậu có địa hình khá cao do ven sông và thấp dần về hướng Đông. Địa hình thấp nhất là từ 0,4 - 0,6m ở khu vực phía Đông Nam thuộc các địa bàn Phong Thạnh, Phong Phú và nằm rải rác ở các khu vực Đông Bắc thuộc Thạnh Phú, Thông Hòa. Đặc biệt có khu vực địa hình trũng thấp dưới 0,4m ở ấp Sóc Kha, xã Hoà Ân; Cây Gòn, xã Phong Thạnh)” [15]. Diện tích đất nông nghiệp của huyện Cầu Kè là 19.929,53 ha (chiếm 80,81 % so với diện tích đất tự nhiên), đất phi nông nghiệp là 4.
Sản xuất nông nghiêp là thế mạnh kinh tế của huyện là ngành sản xuất nông nghiệp với các loại cây trồng như: cam, bưởi, xoài, nhãn, lúa,… trong đó cây trồng chủ lực của huyện là cây lúa, được sản xuất 3 vụ trong năm. Năm 2019, tổng diện tích gieo trồng lúa cả năm của huyện là 28.436,5 ha, năng suất bình quân đạt 5,8 tấn/ha, sản lượng 164.987 tấn so với năm 2015, diện tích gieo trồng giảm 2.850,5 ha, năng suất giảm 0,35 2 tấn/ha, sản lượng giảm 27. UBND huyện đã xác định sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu và cây lúa vẫn là cây trồng chủ lực trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 [25]. Những năm qua, huyện Cầu Kè đã đẩy mạnh việc thực hiện các kế hoạch nhằm tái cơ cấu nông nghiệp hướng tới gia tăng giá trị và phát triển bền vững, công tác quy hoạch sản xuất được cập nhật, điều chỉnh kịp thời, nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ nông dân trong sản xuất, tiêu thụ nông sản phát huy hiệu quả tích cực, kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp luôn được nâng cấp, mở rộng.
Các chỉ tiêu kế hoạch về giá trị sản xuất nông nghiệp từ năm 2015 đến năm 2019 đều vượt chỉ tiêu đề ra và cây lúa đóng góp quan trọng cho kết quả đó, đồng thời lĩnh vực sản xuất nông nghiệp góp phần giải quyết việc làm cho số lượng lớn lao động nông thôn. [25] Đa số người dân huyện Cầu Kè sinh sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp, đời sống người dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất nông nghiệp huyện có tăng, nhưng xét về mặt kinh tế vẫn còn là huyện có tốc độ tăng trưởng chậm, chất lượng hàng hóa nông sản thấp, còn độc canh cây lúa, chưa khai thác hết tiềm năng lợi thế, chưa xác định tầm quan trọng, mức độ ảnh hưởng, bố trí, sử dụng các yếu tố đầu vào chưa hợp lý dẫn đến giá thành sản xuất còn cao, sản xuất còn nhỏ lẻ, tình hình thiên tai, dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp gây bất lợi cho sản xuất nông nghiệp của huyện. Từ thực trạng trên, cần phải sớm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn huyện nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, nguồn nước và cơ cấu lao động phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu và thị trường; tăng thêm giá trị trên một đơn vị diện tích canh tác, tăng thu nhập cho nông hộ, góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng ổn định và bền vững. [15] Xuất phát từ những vấn đề trên, để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch CCKT trong nông nghiệp nhằm phát huy thế mạnh của huyện và tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của huyện, tác giả chọn đề tài “Giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh” là phù hợp với thực tiễn, là cần thiết.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Từ đó, đề xuất các hàm ý chính sách đẩy mạnh chuyển dịch CCKT ngành nông nghiệp của huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh trong thời gian tới.2 Mục tiêu cụ thể Mục tiêu 1: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch CCKT NN. Mục tiêu 2: Phân tích thực trạng chuyển dịch CCKT NN tại huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2015 - 2019. Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế NN huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh trong thời gian tới.
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước Bùi Tấn Đạt (2015), “Chuyển dịch cơ cấu NN tại tỉnh Vĩnh Long theo hướng phát triển bền vững” [12]. Luận văn dùng các phương pháp như: (1) “phân tích hệ thống tìm ra các mối liên hệ giữa các yếu tố để nhìn nhận chính xác hơn về đối tượng nghiên cứu”; TÀI LIỆU SỐ HÓA PHỤC VỤ TRUY CẬP NỘI BỘ (2) “phương pháp dự báo” giúp tác giả đưa ra mục tiêu để thúc đẩy chuyển dịch CCKT NN, xây dựng các mô hình kinh tế NN thích ứng với biến đổi khí hậu trong thời gian sắp tới; (3) tác giả dùng “phương pháp bản đồ - biểu đồ” thể hiện một cách xúc tích, trực quan các đối tượng nghiên cứu trong chuyển dịch CCKT NN tại tỉnh Vĩnh Long; (4) “phương pháp khảo sát thực địa” giúp tác giả đánh giá, xác định lại một cách đầy đủ, chính xác tài liệu nhằm tránh những kết luận chủ quan, thiếu cơ sở thực tế. Tác giả đã phân tích nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch CCKT NN Vĩnh Long trên quan điểm phát triển bền vững, qua đó đánh giá thực trạng chuyển dịch CCKT NN ở tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2001 - 2010, đề ra những thành tựu, hạn chế trong quá trình chuyển dịch CCKT NN Vĩnh Long. Tác giả tập trung phân tích thực trạng và dự báo các nhân tố tác động qua đó, đề xuất giải pháp chuyển dịch CCKT NN theo hướng CNH - HĐH tại tĩnh Vĩnh Long.
Tác giả hệ thống hóa các lý luận về phát triển NN, từ các phương pháp nghiên cứu: (1) “phân tích hệ thống”, chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố từ đó, nhìn nhận các đối tượng nghiên cứu một cách chính xác; (2) “phương pháp biểu đồ” nhằm cô đọng đối tượng nghiên cứu là NN - nông thôn của huyện; (3) “phương pháp 4 tổng hợp”, từ các số liệu thu thập được tác giả đã đưa ra những giải pháp và kiến nghị để phát triển nông nghiệp huyện Cầu Kè.