MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ở nƣớc ta, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đƣợc quan tâm từ rất lâu. Trong các văn kiện của Đảng, Nhà nƣớc và các hội nghị chuyên đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói riêng đã đƣợc đề cập ở các mức độ khác nhau. Nhất là Đại hội đại biểu lần thứ X của Đảng đã nêu rõ “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lƣợng sản xuất, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo bƣớc đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lƣợng và sức cạnh tranh, tăng tốc độ tăng trƣởng kinh tế, sớm đƣa nƣớc ta ra khỏi tình trạng của nƣớc đang phát triển có thu nhập thấp”. Đối với mỗi quốc gia, mỗi tỉnh hay mỗi huyện đều cần thiết phải xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý trong đó xác định đúng đắn mối quan hệ giữa các ngành kinh tế, các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế. Các mối quan hệ trên đƣợc xác lập chặt chẽ thể hiện cả số lƣợng và chất lƣợng. Việc xác định cơ cấu kinh tế hợp lý là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển bền vững nền kinh tế.
Ngƣợc lại, tăng trƣởng và phát triển kinh tế có tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Huyện Ngọc Hồi là một huyện miền núi nằm phía Tây Bắc tỉnh Kon Tum, có diện tích 84.453ha, dân số khoảng 55.000 ngƣời, trong đó số ngƣời trong độ tuổi lao động chiếm gần 60% dân số. Cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hƣớng tích cực, tỷ trọng trong tổng giá trị sản xuất hiện hành của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 44,43% năm 2006 xuống còn 28,51% năm 2015. Tỷ trọng công nghiệp đã tăng nhanh năm 2006 là 29,22% và đến năm 2015 là 49,75%.
Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chƣa biến động nhiều, năm 2006 là 26,35%, năm 2015 là 21,74%. Văn kiện Đại hội Đảng bộ 2 huyện Ngọc Hồi lần thứ VI (tháng 05/2015) đã xác định: “nâng cao chất lƣợng tăng trƣởng và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế đảm bảo phát triển đồng bộ, bền vững. Phát triển thƣơng mại, dịch vụ bảo đảm tốc độ tăng trƣởng và tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế trên địa bàn. Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng theo hƣớng nâng cao chất lƣợng, sức cạnh tranh, với cơ cấu ngành nghề phù hợp.
Phát triển toàn diện kinh tế nông - lâm - thủy sản theo hƣớng sản xuất hàng hóa gắn với công nghiệp chế biến và nhu cầu thị trƣờng…”, thực hiện thắng lợi mục tiêu mà Nghị quyết Đảng bộ huyện đã xác định trong nhiệm kỳ 2015 - 2020 là nhiệm vụ quan trọng của huyện Ngọc Hồi. Ngày nay trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và đẩy mạnh CNH, HĐH đất nƣớc, vấn đề xác định cơ cấu kinh tế hợp lý là đòi hỏi tất yếu và là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển bền vững kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi địa phƣơng trong đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, thành phần kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ và biện chứng. Việc xác định cơ cấu kinh tế nhằm sử dụng hợp lý, hiệu quả tiềm năng, lợi thế của huyện đảm bảo đƣợc các mục tiêu trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài. Với yêu cầu khách quan của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tôi chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum” làm luận văn thạc sỹ là hết sức cần thiết.
Mục tiêu của đề tài - Khái quát đƣợc lý luận về chuyển dịch cơ cấu (viết tắt CDCC) kinh tế. - Đánh giá đƣợc thực trạng CDCC kinh tế của huyện Ngọc Hồi thời gian qua. - Đƣa ra đƣợc các giải pháp nhằm thúc đẩy CDCC kinh tế của huyện thời gian tới. Câu hỏi nghiên cứu Đề tài phải trả lời câu hỏi: - Tình hình CDCC kinh tế của huyện Ngọc Hồi nhƣ thế nào? - Cần phải có những giải pháp nào thúc đẩy CDCC kinh tế của huyện thời gian tới? 4.
Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là CDCC kinh tế. Phạm vi nội dung: Tập trung vào CDCC ngành, nội bộ ngành, thành phần kinh tế. Phạm vi không gian: Huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Phạm vi thời gian: từ 2006 tới 2015.
Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng nhiều phƣơng pháp nghiên cứu khác nhau trong nghiên cứu do tính phức tạp của đề tài. Đầu tiên là nghiên cứu tài liệu để hình thành khung lý thuyết cho nghiên cứu. Tiếp đó sẽ tiến hành khảo sát thực tế để củng cố khung nghiên cứu. Trên cơ sở đó tiến hành thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu.
Tiến hành đánh giá và viết báo cáo. Phương pháp phân tích: Các phƣơng pháp bao gồm phân tích thống kê, so sánh, khái quát và tổng hợp. Số liệu: Do tính chất của nghiên cứu nên luận văn chủ yếu sử dụng số liệu thứ cấp từ các cơ quan chuyên môn trực thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Ngọc Hồi: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài chính-Kế hoạch, Phòng Lao động thƣơng binh và Xã hội, Phòng Kinh tế- Hạ tầng và Chi cục Thống kê huyện Ngọc Hồi. Bố cục đề tài Đề tài gồm 3 chƣơng: 4 Chƣơng 1.
Cơ sở lý luận về CDCC kinh tế Chƣơng 2. Thực trạng CDCC kinh tế huyện Ngọc Hồi Chƣơng 3. Các giải pháp thúc đẩy CDCC kinh tế huyện Ngọc Hồi 7. Tổng quan nghiên cứu Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một nội dung rất quan trọng trong Kinh tế phát triển, quá trình này cũng chịu ảnh hƣởng từ các điều kiện thị trƣờng, điều kiện tự nhiên và khả năng nguồn lực.
Do vậy, phần tổng quan này cũng sẽ bắt đầu từ tổng quan các nghiên cứu có liên quan tới CDCC kinh tế. Bắt đầu từ các nghiên cứu ở nƣớc ngoài: Từ đầu thế kỷ thứ 19, các nhà kinh tế học trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về các mô hình, lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đƣợc phổ biến trên các giáo trình giảng dạy. Trên cơ sở thực nghiệm, E. Engel (1821-1896) đã tìm ra Quy luật tiêu dùng sản phẩm Engel.
Quy luật này phản ánh mối quan hệ giữa thu nhập và phân phối thu nhập cho các nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Lúc đầu khi thu nhập của Nhân dân tăng lên thì nhu cầu sản phẩm nông nghiệp tăng theo, nhƣng đến một lúc nào đó sẽ bị bão hòa và không tăng nữa. Nhu cầu và tỷ lệ sản phẩm nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc gia có xu hƣớng giảm dần. Qua nghiên cứu quy luật này, các nhà kinh tế đã nhận thấy rằng: khi thu nhập tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu cho hàng hóa thiết yếu (hàng nông sản) giảm xuống, tỷ lệ chi tiêu cho hàng hóa lâu bền (hàng công nghiệp) có xu hƣớng tăng, nhƣng tăng nhỏ hơn tốc độ thu nhập, còn tỷ lệ chi tiêu cho hàng hóa chất lƣợng cao (dịch vụ) có xu hƣớng ngày càng tăng và đến một mức thu nhập nào đó thì tốc độ tăng tiêu dùng sẽ cao hơn tốc độ tăng thu nhập, chính nhu cầu và xu hƣớng tiêu dùng của thị trƣờng đã chỉ ra cơ sở cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Vào những năm 1950, nhà kinh tế học ngƣời Mỹ gốc Jamaica A. Lewis viết trong cuốn “Lý thuyết về phát triển” đã đƣa ra các giải thích về mối quan 5 hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp trong quá trình tăng trƣởng dƣới tên gọi “Mô hình hai khu vực cổ điển”. Lewis xuất phát từ cách tiếp cận của Ricardo khi cho rằng: nông nghiệp có lợi nhuận biên giảm dần theo quy mô (và tiến tới bằng 0) và hiện tƣợng dƣ thừa lao động nông nghiệp ngày càng phổ biến. Do đó cần giảm dần quy mô, tỷ lệ đầu tƣ, chuyển dần lao động nông nghiệp dƣ thừa sang công nghiệp và mở rộng quy mô, tốc độ phát triển công nghiệp để duy trì tăng trƣởng, đây chính là cơ sở để ông xây dựng mô hình này.
Mô hình phân thành khu vực truyền thống (nông nghiệp) và khu vực hiện đại (công nghiệp). Ông cho rằng: trong khu vực truyền thống, sơ đồ sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào vốn, công nghệ, nhân lực. Giả định vốn và khoa học kỹ thuật không thay đổi thì hàm sản xuất sẽ là: YA= f(LA) và nhƣ vậy sản phẩm lao động cận biên ngành nông nghiệp giảm dần và cuối cùng bằng 0. Đối với khu vực hiện đại thì ngoài yếu tố vốn, kỹ thuật thì phải thu hút nhân lực từ khu vực nông nghiệp với mức tiền công cao hơn.
Sơ đồ hàm sản xuất: YM= f(KM, LM). Sản phẩm lao động cận biên ngành công nghiệp giảm nhƣng không bằng 0. Theo thời gian, quan hệ giữa hai khu vực sẽ thích ứng, tính nhị nguyên sẽ giảm dần và cả hai ngành đều phải đầu tƣ chiều sâu để duy trì tăng trƣởng. Các tác giả: Shenggen Fan, Xiaobo Zhang và Sherman Robinson (2003) đã nghiên cứu, phân tích chuyển dịch cơ cấu và tăng trƣởng kinh tế Trung Quốc giai đoạn 1978 – 1995.
Trong bài viết này, các tác giả xem xét nguồn tăng trƣởng dựa vào hai yếu tố: yếu tố đầu vào (đất đai, lao động và vốn) và yếu tố tăng năng suất tổng hợp (TFP) hoặc sự thay đổi kỹ thuật; thông qua kết quả thực nghiệm và ứng dụng mô hình tăng trƣởng Solow đã chứng minh sự phân bổ nguồn lực từ các thành phần năng suất thấp sang năng suất cao làm thay đổi cơ cấu ngành kinh tế và tác động đáng kể đến tăng trƣởng kinh tế Trung Quốc. 6 Nghiên cứu trong nƣớc: Lê Du Phong và Nguyễn Thành Độ (1999) đã đề cập các luận cứ khoa học của CDCC kinh tế theo hƣớng hội nhập trong “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới”. Các tác giả phân tích, đánh giá thực trạng CDCC kinh tế theo ngành ở nƣớc ta trong giai đoạn 1991 - 1997, thực trạng CDCC kinh tế ở các vùng và phƣơng hƣớng, biện pháp CDCC kinh tế theo hƣớng hội nhập kinh tế thế giới của nƣớc ta. Theo đó, các tác giả đã phân tích và đề xuất các giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, nhƣng chƣa đề cập đến tỉnh Quảng Nam.