phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chƣơng 2: Thực trạng CDCCKT huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng Chƣơng 3: Một số giải pháp CDCCKT huyện Hòa Vang 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1. KHÁI QUÁT VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1 1 1 Cơ ấu kinh tế a. Khái niệm cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế đƣợc hiểu là tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế cùng các mối quan hệ chủ yếu về định tính tính và định lƣợng, ổn định và phát triển giữa các bộ phận ấy với nhau hay của toàn bộ hệ thống trong những điều kiện của nền sản xuất xã hội và trong những khoảng thời gian nhất định 11, 157. Cơ cấu kinh tế không chỉ thể hiện ở quan hệ tỷ lệ về mặt số lƣợng mà quan trọng hơn là mối quan hệ tác động qua lại giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế.
Các mối quan hệ này đƣợc hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hƣớng vào những mục tiêu cụ thể. Nếu các thƣớc đo tăng trƣởng phản ánh sự thay đổi về lƣợng thì xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện mặt chất lƣợng trong quá trình phát triển. Đánh giá sự phát triển kinh tế cần xem xét một cách toàn diện việc hình thành và chuyển dịch của các loại hình cơ cấu kinh tế. Phân loại cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế bao gồm cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế.
- Cơ cấu ngành kinh tế là tƣơng quan giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lƣợng và chất lƣợng giữa các ngành với nhau. Các mối quan hệ này đƣợc hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn vận động và hƣớng vào những mục tiêu cụ thể [11, 157]. Bản chất của cơ cấu ngành kinh 12 tế thể hiện trên các khía cạnh: Thứ nhất, đó là tổng thể các nhóm ngành, các ngành kinh tế đƣợc hình thành, số lƣợng các ngành kinh tế luôn thay đổi trong quá trình phát triển. Theo tính chất phân công lao động xã hội (hay sự khác nhau về quy trình công nghệ của các ngành trong quá trình tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ), các ngành kinh tế đƣợc phân thành ba khu vực: khu vực I bao gồm các ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp; khu vực II gồm các ngành công nghiệp và xây dựng; khu vực III gồm các ngành dịch vụ.
Thứ hai, cơ cấu ngành kinh tế thể hiện ở mối quan hệ tƣơng hỗ (bao gồm cả về mặt số lƣợng và chất lƣợng) với nhau, mối quan hệ giữa các ngành thƣờng xuyên biến đổi và ngày càng phức tạp theo sự phát triển của lực lƣợng sản xuất và phân công lao động xã hội trong nƣớc và quốc tế. Trạng thái cơ cấu ngành là dấu hiệu phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Cơ cấu ngành kinh tế chịu sự tác động của nhiều nhân tố, các nhân tố này đều tác động đến sự thay đổi trong cơ cấu của tổng cầu và sự phân bổ các yếu tố sản xuất. Nhóm các nhân tố tác động từ bên trong bao gồm: nhân tố thị trƣờng và nhu cầu tiêu dùng xã hội; trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất cùng với sự vận động phù hợp của quan hệ sản xuất; quan điểm, chiến lƣợc, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc trong mỗi giai đoạn nhất định.
Nhóm các nhân tố tác động từ bên ngoài bao gồm: xu thế chính trị xã hội trong khu vực và thế giới, xu thế toàn cầu hóa và quốc tế hóa lực lƣợng sản xuất; các thành tựu cách mạng khoa học và công nghệ; sự bùng nổ của công nghệ thông tin. Đánh giá đƣợc một cách đúng đắn mức độ và phạm vi tác động của các nhân tố này là căn cứ để Nhà nƣớc xây dựng và điều chỉnh cơ cấu kinh tế thông qua các chính sách cơ cấu phù hợp. - Cơ cấu vùng – lãnh thổ kinh tế là sự phân công lao động xã hội theo lãnh thổ trên phạm vi cả nƣớc. Cơ cấu vùng – lãnh thổ đƣợc coi là nhân tố 13 hàng đầu để tăng trƣởng và phát triển bền vững các ngành kinh tế đƣợc phân bố ở vùng.
Việc xác lập cơ cấu kinh tế vùng – Lãnh thổ 1 cách hợp lý nhằm phân bố trí các ngành sản xuất trên vùng – lãnh thổ sao cho thích hợp để triển khai có hiệu quả mọi tiềm năng và lợi thế của từng vùng. Việc bố trí sản xuất ở mỗi vùng không khép kín mà có sự liên kết với các vùng khác có liên quan để gắn với cơ cấu kinh tế của cả nƣớc: ở nƣớc ta có thể chia ra các vùng kinh tế nhƣ sau:Trung du và miền núi bắc bộ; Tây Nguyên; Đồng bằng sông cửu long; Vùng KTTĐ Bắc bộ; Vùng KTTĐ Miền trung; Vùng KTTĐ Phía Nam [11,159]. - Cơ cấu thành phần kinh tế đây là dạng cơ cấu phản ánh tính chất xã hội hóa về tƣ liệu sản xuất và tài sản của nền kinh tế. Cơ sở hình thành cơ cấu thành phần kinh tế là chế độ sỡ hữu.
Xét về nguồn gốc thì có hai loại hình sở hữu là sở hữu công cộng và sở hữu tƣ nhân. Nhìn chung các nƣớc phát triển và xu hƣớng ở các nƣớc đang phát triển, khu vực kinh tế tƣ nhân thƣờng chiếm tỷ trọng cao và nền kinh tế phát triển theo con đƣờng tƣ nhân hóa. Ở Việt Nam hiện nay đang tồn tại sáu thành phần kinh tế là: thành phần kinh tế nhà nƣớc; thành phần kinh tế tập thể; thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ; thành phần kinh tế tƣ bản tƣ nhân; thành phần kinh tế tƣ bản nhà nƣớc; thành phần kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Các thành phần kinh tế nói trên không có sự phân biệt về thái độ đối xử, đều có môi trƣờng và điều kiện phát triển nhƣ nhau, trong đó kinh tế nhà nƣớc đóng vai trò chủ đạo [11,160].
Ba loại hình cơ cấu trên đặc trƣng cho cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân. Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó cơ cấu ngành kinh tế có vai trò quan trọng hơn cả. Cơ cấu vùng kinh tế có ý nghĩa trong việc hoạch định chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo sự phát triển cân đối, hài hòa giữa các vùng, miền; đồng thời, phát huy đƣợc tiềm năng, lợi thế của từng vùng. Cơ cấu thành phần kinh tế phù hợp, sẽ tạo ra nội lực thúc đẩy 14 kinh tế tăng trƣởng và phát triển.
Nhƣng cơ cấu kinh tế ngành và thành phần kinh tế chỉ có thể đƣợc chuyển dịch đúng đắn trên phạm vị không gian lãnh thổ và trên phạm vi cả nƣớc. Mặt khác, việc phân bổ không gian lãnh thổ một cách hợp lý có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy phát triển các thành phần kinh tế trên lãnh thổ và sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Chuyển dị ơ ấu kinh tế a. Khái niệm Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế theo thời gian từ trạng thái và trình độ này tới một trạng thái khác phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và các điều kiện vốn có nhƣng không lặp lại trạng thái cũ.
1; 61 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành là quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với môi trƣờng và điều kiện phát triển [11,163]. Chuyển dịch cơ cấu ngành không chỉ là thay đổi số lƣợng các ngành, tỷ trọng của mỗi ngành mà còn bao gồm sự thay đổi về vị trí, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành. Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chƣa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành: Bản thân mỗi nhóm ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ cũng là một hệ thống động bởi sự vận động liên tục và sự thay đổi tƣơng quan giữa các thành tố.
Đó chính là sự thay đổi trong nội bộ từng ngành. Do đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành là sự thay đổi cơ cấu nhóm ngành cả trên khía cạnh các bộ phận cơ cấu ngành, vùng, thành phần, mối quan hệ giữa chúng cả về số lƣợng và chất 15 lƣợng của cơ cấu để phù hợp với môi trƣờng kinh tế tổng thể bảo đảm sự phát triển bền vững. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế là quá trình chuyển biến tích cực, phù hợp với đƣờng lối phát triển kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ đổi mới. Vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một nội dung quan trọng của quá trình CNH, HĐH đất nƣớc.
Nếu xác định đƣợc phƣơng hƣớng và giải pháp chuyển dịch đúng sẽ đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội cao trong sự phát triển. Có thể khẳng định rằng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế có một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế vì: Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm khai thác các yếu tố lợi thế của nền kinh tế, vùng hoặc địa phƣơng. Các yếu tố đó là nguồn lực tài nguyên, lao động.yếu tố lợi thế so sánh nhƣ chi phí sản xuất. Thông qua quá trình tổ chức khai thác có hiệu quả các yếu tố lợi thế, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ tìm ra các ngành mũi nhọn tạo ra khả năng tăng trƣởng mạng cho đất nƣớc, vùng hoặc địa phƣơng đồng thời giải quyết mối quan hệ bền vững giữa tăng trƣởng kinh tế với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, với phát triển nguồn nhân lực.
Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. Trƣớc hết chuyển dịch cơ cấu ngành nhằm nâng cao vai trò và thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa các ngành với nhau, tạo đà cho các ngành cùng nhau tăng trƣởng và phát triển.