CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1. Khái niệm tăng trưởng và phát triển kinh tế Tăng trưởng và phát triển là hai khái niệm được dùng trong kinh tế phát triển, đôi khi được coi như nhau nhưng thực chất chúng có những điểm khác nhau và có liên hệ chặt chẽ với nhau. Tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm là sự gia tăng về quy mô, sản lượng đầu ra của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Hễ sản lượng hàng hóa và dịch vụ của một nước tăng lên, cho dù bằng bất cứ cách nào, thì sự gia tăng ấy được xem là tăng trưởng kinh tế.
Để nhận biết sự tăng trưởng kinh tế, người ta thường nhìn vào mức tăng của tổng sản lượng nền kinh tế. Phát triển kinh tế mang nghĩa rộng hơn, phát triển kinh tế không chỉ nói đến sự gia tăng thu nhập, sản lượng mà còn nói đến những thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế. Tăng trưởng là phương tiện cơ bản để có được sự phát triển, nhưng bản thân nó chỉ đại diện, chưa phản ánh sự tiến bộ. Trong quá trình xem xét sự phát triển đôi khi người ta đã lẫn lộn phát triển với tăng trưởng, quy lý luận phát triển vào việc giải quyết các vấn đề tăng trưởng, giải thích một cách đơn giản rằng mục tiêu của sự phát triển là sự tăng thu nhập và phương tiện là tăng đầu tư, như vậy không đầy đủ và chính xác.
Tăng trưởng chưa phải là phát triển mà chỉ là điều kiện cần cho sự phát triển. Cần thấy được sự nguy hại của tăng trưởng mà không có phát triển, sự nguy hại đó tồn tại ở các nước đang phát triển khi hoạt động kinh tế tập trung vào một số ngành của những hãng nước ngoài hoặc những công trình công cộng lớn mà không có tác dụng lan tỏa. Ngay cả các nước phát triển, có những trường hợp 10 khi tăng trưởng, diễn biến các lợi ích của phát triển phân bố không đồng đều giữa các vùng. Phát triển kinh tế bao hàm tăng trưởng kinh tế.
Do đó, nguồn gốc dẫn đến tăng trưởng kinh tế cũng là nguồn gốc của phát triển kinh tế. Nguồn gốc của tăng trưởng được khám phá bởi các lý thuyết kinh tế trong đó sự đồng nhất cao của các nhà kinh tế học về các nguồn lực cơ bản của quốc gia tham gia vào quá trình phát triển kinh tế bao gồm: lao động, vốn sản xuất, tài nguyên và công nghệ. Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển. Theo tác giả Ramam Waitz: “ Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng mức sống con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội”.
Phát triển là sự vận động theo chiều hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Phát triển trong sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất và dịch vụ. Trong đó, con người luôn đấu tranh với thiên nhiên và làm thay đổi những vật chất sẵn có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà ở và những của cải khác phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của mình. Như vậy, phát triển có thể hiểu là một quá trình lớn lên về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, trong đó có sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội.
Bản chất của phát triển là tổng thể những thay đổi cần thiết để toàn bộ một hệ thống xã hội chuyển từ một điều kiện sống được cho là chưa thỏa mãn sang một điều kiện sống được cho là tốt hơn về vật chất và tinh thần. Khái niệm nuôi trồng thủy sản Nuôi trồng thủy sản là hoạt động sản xuất dựa trên cơ sở kết hợp giữa tài nguyên thiên nhiên sẵn có (mặt nước biển, nước sông ngòi, ao hồ, ruộng 11 trũng, sông cụt, đầm phá, khí hậu.) với hệ sinh vật sống dưới nước (chủ yếu là cá, tôm và các thủy sản khác.) có sự tham gia trực tiếp của con người. Hay nói một cách cụ thể hơn, nuôi trồng thủy sản là nuôi các loài động vật (cá, giáp xác, nhuyễn thể.) và thực vật (rong biển).trong các môi trường như nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Các đối tượng nuôi hiện nay ở nước ta chủ yếu bao gồm: tôm sú, tôm thẻ chân trắng, tôm hùm, tôm càng xanh, cá biển (cá hồng, cá mú, cá chẽm, cá bớp, cá măng.), cá nước ngọt (cá tra, cá ba sa, cá chép, cá mè, cá rô phi, trê phi, trắm cỏ, trôi, bống tượng, tai tượng, cá lóc.
Khái niệm về phát triển nuôi trồng thủy sản Dựa trên cơ sở lý luận về tăng trưởng và phát triển thì phát triển nuôi trồng thuỷ sản được hiểu là quá trình tăng lên về các yếu tố đầu vào như: diện tích, lao động, con giống, thức ăn, quy mô nuôi trồng, trình độ thâm canh cùng với các yếu tố đầu ra cũng gia tăng như: năng suất, sản lượng, giá trị, chủng loại, thị trường tiêu thụ.theo hướng hiệu quả, bền vững và đáp ứng nhu cầu xã hội. VỊ TRÍ, VAI TRÒ, PHÂN LOẠI, ĐẶC ĐIỂM CỦA NTTS 1. Vị trí của nuôi trồng thuỷ sản Nuôi trồng thuỷ sản là một ngành kinh tế có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, Đảng và Nhà nước ta coi trọng việc phát triển thuỷ sản nói chung và nuôi trồng thuỷ sản nói riêng là một trong những yếu tố bảo đảm cho sự phát triển kinh tế ổn định vững chắc, thể hiện trong các cơ chế chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, khai thông và mở rộng thị trường xuất khẩu, đầu tư khoa học công nghệ, vốn, đào tạo nguồn nhân lực,…như: - Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ngành thuỷ sản thời kỳ 1996 - 2010. 12 - Quyết định số 773/QĐ-TTg ngày 21/12/1994 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình khai thác, sử dụng đất hoang hóa, bãi bồi ven sông, ven biển và mặt nước ở vùng đồng bằng.
- Quyết định số 224/QĐ-TTg ngày 8/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển NTTS thời kỳ 1999 - 2010. - Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về một số chủ trương chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. - Quyết định số 103/QĐ-TTg ngày 25/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển giống thuỷ sản. - Quyết định số 10/QĐ-TTg ngày 11/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
- Quyết định 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013. - Quyết định số 332/QĐ-TTg ngày 03/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển NTTS đến năm 2020. - Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 02/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030. Vai trò của NTTS a.
Cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu của xã hội Nuôi trồng thuỷ sản ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm tiêu dùng cho con người trên toàn thế giới. Theo dự báo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới (FAO), trong bối cảnh sản lượng thủy sản từ hoạt động khai thác trong 30 năm qua hầu như không tăng hoặc giữ nguyên, đặc biệt là tại các quốc gia phát triển, cùng với sự tăng 13 trưởng không ngừng của dân số toàn cầu sẽ dẫn đến nhu cầu phát triển không thể tránh khỏi của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản. Nuôi trồng thuỷ sản là một trong những ngành tạo ra thực phẩm, cung cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp. Ở tầm vĩ mô, dưới giác độ ngành kinh tế quốc dân, nuôi trồng thuỷ sản đã góp phần bảo đảm an ninh lương thực thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho thức ăn.
Có thể nói nuôi trồng thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, góp phần chuyển đổi cơ cấu thực phẩm trong bửa ăn của người dân, cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào. FAO cũng ước tính rằng, trong bối cảnh tăng trưởng dân số thế giới và tăng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thủy sản bình quân đầu người, đặc biệt là tại các quốc gia phát triển, đến năm 2030, thế giới sẽ cần thêm khoảng 40 triệu tấn thực phẩm thủy sản bổ sung để phục vụ cho mục đích tiêu dùng của loài người. Và không có nguồn nào khác, chính nuôi trồng thuỷ sản sẽ là lĩnh vực đáp ứng lượng nhu cầu thực phẩm thủy sản bổ sung này. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nuôi trồng thuỷ sản tạo nguồn hàng xuất khẩu quan trọng.
Trong nhiều năm liền, ngành thuỷ sản luôn giữ vị trí thứ 3 hoặc thứ 4 trong bảng danh sách các ngành có vị trí xuất khẩu lớn nhất đất nước. Ngành thuỷ sản là một trong 10 ngành có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD. Từ năm 1986 đến nay kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã không ngừng tăng lên qua các năm. Năm 1986 giá trị kim ngạch xuất khẩu mới đạt 0,102 tỷ USD.
Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ (1997) đã làm ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản nước ta. Đến năm 2000 xuất khẩu thủy sản đã có bước nhảy vọt đạt mức 1,402 tỷ USD, tăng 44,38% so với năm 1999. Năm 2003 sản xuất, xuất khẩu thủy sản gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của Irắc, dịch bệnh SARS, thiên tai, dịch bệnh tôm, các rào cản từ thị trường nhập khẩu 14 như việc kiểm soát ngặt nghèo về dư lượng kháng sinh ở EU và hậu quả của vụ kiện cá tra, cá ba sa, tôm của Mỹ. Mặc dù vậy, ngành thủy sản đã đạt kim ngạch xuất khẩu năm 2003 là 2,3 tỷ USD.
Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 2,7 tỷ USD. Năm 2010 lĩnh vực xuất khẩu được coi là thành công nhất trong bức tranh thủy sản năm 2010 đạt 4,94 tỷ USD và xuất khẩu thuỷ sản giữ ngôi vị “á quân” trong kim ngạch các sản phẩm xuất khẩu Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt gần 6,11 tỷ USD, đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu chung toàn ngành nông nghiệp khoảng 24,44% và 6,34% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc.