CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1-Một số nội dung cơ bản về hoạt động tín dụng đối với hộ sản xuất 1.1-Khái niệm về tín dụng hộ sản xuất Theo Bùi Diệu Anh, Hồ Diệu, Lê Thị Hiệp Thương (2009 và tái bản lần 1 năm 2011) thì: Tín dụng (TD) là một quan hệ ra đời gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế. TD bắt nguồn từ chữ Credit-Creditum hay được hiểu đơn giản là một quan hệ sử dụng sự tín nhiệm. Trong nền kinh tế hàng hóa có nhiều loại hình TD như: TD ngân hàng, TD thương mại, TD nhà nước, TD tiêu dùng.Có thể xem xét khái niệm tín dụng dưới nhiều góc độ và trong những bối cảnh khác nhau, chẳng hạn: trên thị trường tài chính, theo nguồn gốc lịch sử.TD được nhìn nhận như là một chức năng cơ bản của hệ thống ngân hàng. Tín dụng ngân hàng (TDNH) là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp TD (ngân hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận TD (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Do đặc điểm riêng của mình TDNH đạt được ưu thế hơn các hình thức TD khác về khối lượng, thời hạn và phạm vi đầu tư; Với đặc điểm TD bằng tiền, vốn TDNH có khả năng đầu tư chuyển đổi vào bất cứ lĩnh vực nào của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Vì vậy mà TDNH ngày càng trở thành hình thức TD quan trọng trong các hình thức tín dụng hiện có. Trong hoạt động TD của ngân hàng, loại hình tín dụng hộ sản suất là hết sức quan trọng để thực hiện chính sách nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là đối với nền nông nghiệp như nước ta. 2 Tín dụng hộ sản xuất là quan hệ TDNH giữa một bên là ngân hàng với một bên là hộ sản xuất hàng hóa.
Từ khi được thừa nhận là chủ thể trong quan hệ xã hội, có thừa kế, có quyền sở hữu tài sản, có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, có tài sản thế chấp thì hộ sản xuất mới có khả năng và đủ tư cách tham gia quan hệ TD với ngân hàng (trừ những chỉ định riêng không có tài sản thế chấp của Chính phủ). Đây cũng chính là điều kiện để hộ sản xuất đáp ứng được điều kiện vay vốn của ngân hàng.2-Đặc điểm của tín dụng hộ sản xuất Theo Bùi Diệu Anh, Hồ Diệu, Lê Thị Hiệp Thương (2009 và tái bản lần 1 năm 2011), liên hệ với lĩnh vực tín dụng hộ sản xuất tại NHTM thì có các đặc điểm như sau: -Mang tính thời vụ và gắn liền với chu kỳ sinh trưởng của cây, con trong sản xuất nông nghiệp. Đặc điểm này quyết định thời điểm cho vay và thu nợ của ngân hàng. Nếu ngân hàng tập trung cho vay vào các chuyên ngành hẹp như cho vay một số cây con nhất định thì phải tổ chức cho vay tập trung vào một thời gian nhất định của năm, đầu vụ tiến hành cho vay, đến kỳ thu hoạch tiêu thụ tiến hành thu nợ.
-Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng trả nợ của khách hàng. Nguồn trả nợ ngân hàng của hộ sản xuất chủ yếu là tiền thu từ bán hàng nông sản và các sản phẩm chế biến có liên quan đến nông sản, như vậy sản lượng nông sản thu được là yếu tố quyết định khả năng trả nợ của khách hàng, mà sản lượng như ta biết thì chịu sự ảnh hưởng rất lớn của thiên nhiên. -Chi phí tổ chức cho vay cao: Cho vay hộ sản xuất đặc biệt là cho vay hộ nông dân, chi phí nghiệp vụ cho một đồng vốn vay thường cao do quy mô từng món vay nhỏ, số lượng khách hàng đông, phân bố ở khắp nơi, nên mở rộng cho vay thường liên quan đến việc mở rộng mạng lưới cho vay và thu nợ. Mở chi nhánh, phòng giao dịch, tổ lưu động cho vay tại xã, dẫn đến chi phí tăng cao hơn.
Ngoài ra, do đặc thù kinh doanh của sản xuất đặc biệt là hộ nông dân có độ rủi ro cao nên chi phí cho dự phòng rủi ro là tương đối lớn so với các ngành khác. 3 -Thủ tục pháp lý cho vay hộ sản xuất đơn giản, chỉ cần chủ hộ là đại diện đứng tên giao dịch với ngân hàng hoặc thành viên khác trong hộ làm đại diện trên cơ sở có ủy quyền của chủ hộ; Quy mô giao dịch thường không lớn, không thường xuyên đối với một hộ/năm; Mục đích vay vốn của hộ sản xuất khá phức tạp, khả năng tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất và ý thức pháp luật của hộ vay còn hạn chế; Phần lớn tài sản của hộ sản xuất có giá trị thấp và khó phát mãi, nhất là ở địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.3-Vai trò tín dụng ngân hàng thương mại đối với hộ sản xuất Theo Nguyễn Ngọc Tuấn (2013), liên hệ với lĩnh vực tín dụng hộ sản xuất tại NHTM thì có các vai trò tín dụng NHTM đối với hộ sản xuất như sau: -Tín dụng ngân hàng (TDNH) đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất để duy trì quá trình sản xuất liên tục, góp phần đầu tư phát triển kinh tế. Với đặc trưng sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất cùng với sự chuyên môn hóa của sản xuất trong xã hội ngày càng cao, đã dẫn đến tình trạng các hộ sản xuất khi chưa thu hoạch, chưa có sản phẩm hàng hóa để bán thì chưa có thu nhập, nhưng họ vẫn cần tiền để trang trải cho các khoản chi phí sản xuất, mua sắm đổi mới trang thiết bị và rất nhiều khoản chi khác trong sinh hoạt đời thường. Những lúc đó hộ sản xuất cần có sự hỗ trợ của TDNH để có đủ vốn duy trì sản xuất liên tục.
Nhờ có sự hỗ trợ kịp thời về vốn của ngân hàng, các hộ sản xuất có thế sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sẵn có khác như lao động, tài nguyên để tạo ra sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, từ đó nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho mọi người. -Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất. Trong cơ chế thị trường, vai trò tập trung vốn, tập trung sản xuất của TDNH được thể hiện ở mức độ cao hơn hẳn so với cơ chế bao cấp cũ. Bằng cách tập trung vốn vào kinh doanh giúp cho các hộ sản xuất có điều kiện để mở rộng sản xuất, làm cho sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn, thúc đẩy quá trình tăng trưởng 4 kinh tế và đồng thời ngân hàng cũng hạn chế được rủi ro tín dụng.
Thực hiện tốt chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, ngân hàng quan tâm đến nguồn vốn đã huy dộng được để cho hộ sản xuất vay, vì vậy ngân hàng sẽ thức đẩy các hộ sản xuất sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và lưu thông. Trên cơ sở đó, hộ sản xuất biết phải tập trung vốn như thế nào để sản xuất, góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn. -Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát huy các ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, giải quyết việc làm cho người lao động. Việt Nam là một nước có nhiều ngành nghề truyền thống, nhưng chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức.
Trong điều kiện hiện nay, bên cạnh việc thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, chúng ta cũng phải quan tâm đến ngành nghề truyền thống có khả năng đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp-nông thôn. Phát huy được làng nghề truyền thống cũng chính là phát huy được nội lực của kinh tế hộ và TDNH sẽ là công cụ tài trợ cho các ngành nghề mới thu hút, giải quyết việc làm cho người lao động. Từ đó, góp phần phát triển toàn diện nông-lâm-ngư-diêm nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông-lâm-thủy sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại. Do đó, TDNH còn là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành nghề kinh tế trong hộ sản xuất phát triển, tạo tiền đề để lôi cuốn các ngành nghề này phát triển một cách nhịp nhàng và đồng bộ.
-Tín dụng ngân hàng có vai trò rất to lớn về mặt chính trị và xã hội: Thông qua việc cho vay mở rộng sản xuất đối với các hộ sản xuất đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Đó là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay ở nước ta. Khi người lao động có việc làm sẽ tạo thu nhập, sẽ hạn chế được những tiêu cực xã hội. TDNH thúc đẩy các ngành nghề phát triển, giải quyết việc làm cho lao động thừa ở nông thôn, hạn chế những luồng di dân vào thành phố.
Thực hiện được vấn đề này là do các ngành nghề phát triển sẽ tăng thu nhập cho nông dân, đời 5 sống văn hóa, kinh tế, xã hội tăng lên, khoản cách giữa nông thôn và thành thị được càng xích lại gần nhau hơn, hạn chế sự phân hóa bất hợp lý trong xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ngoài ra, TDNH còn góp phần thực hiện tốt các chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, điển hình là chính sách xóa đói giảm nghèo, TDNH đã thúc đẩy hộ sản xuất phát triển nhanh làm cho thay đổi bộ mặt nông thôn, các hộ nghèo trở nên khá hơn, hộ khá trở nên giàu hơn. Chính vì lẽ đó các tệ nạn xã hội dần cũng được xóa bỏ bớt, trình độ dân trí, trình độ chuyên môn của người lao động cũng được nâng lên. Qua đó cho thấy, vai trò của TDNH trong việc củng cố lòng tin của nông dân nói chung và hộ sản xuất nói riêng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.