Chương 1: Tổng quan về quản lý rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ - Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt nam. - Chương 3: Các giải pháp tăng cường quản lý rủi ro trong phương thức TDCT tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt nam. 123doc 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG PHƢƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ.1 Phƣơng thức tín dụng chứng từ trong TTQT 1.1 Khái niệm và đặc trưng 1.1 Khái niệm Phương thức TDCT là một sự thỏa thuận, trong đó một Ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng), theo yêu cầu của khách hàng (Người yêu cầu mở TTD), sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (Người hưởng lợi số tiền của TTD) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho Ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định của TTD. Các bên tham gia chính trong phương thức TDCT gồm có: - Người yêu cầu mở L/C (Applicant): là Người NK hoặc là Người NK ủy thác cho một người khác.
- NHPH L/C (Issuing Bank): là Ngân hàng của Người NK, nó cấp tín dụng cho Người NK. - Người hưởng lợi L/C (Beneficiary): là Người XK hay bất cứ người nào khác mà Người hưởng lợi chỉ định. - NHTB L/C (Advising Bank): là NHĐL của NHPH ở nước Người hưởng lợi. Ngoài ra, tùy thuộc vào loại hình L/C, có thể có sự tham gia của các Ngân hàng khác như: Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank), Ngân hàng chiết khấu (Negotiating Bank), Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank), Ngân hàng hoàn trả (Reimbursing Bank), Ngân hàng chuyển nhượng (Transfering Bank), Ngân hàng chuyển chứng từ (Remitting Bank).2 Đặc trưng a.
Phương thức thanh toán TDCT liên quan đến hai quan hệ hợp đồng độc lập b. Hai nguyên tắc cơ bản trong phương thức TDCT - Nguyên tắc độc lập của L/C. 123doc 2 - Nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ của chứng từ. Các bên giao dịch chỉ căn cứ vào chứng từ chứ không căn cứ vào hàng hóa trong phương thức TDCT.
Quyền lợi của người bán và người mua trong hoạt động ngoại thương được đảm bảo một cách tương đối trong phương thức TDCT.2 Quy trình tiến hành nghiệp vụ phương thức TDCT Sơ đồ quy trình nghiệp vụ phương thức thanh toán bằng L/C có thể tóm gọn các bước cơ bản như sau: (2) Ngân hàng thông báo Ngân hàng phát hành (5) Advising Bank Issuing Bank (6) (3) (5) (6) (8) (7) (1) HĐ Người hưởng lợi Người yêu cầu (Người bán) (4) (Người mua) Beneficiary Applicant Sơ đồ 1.1: Cơ chế hoạt động của phƣơng thức TDCT (1): Người mua làm đơn xin mở L/C gửi đến ngân hàng yêu cầu ngân hàng mở L/C cho người bán hưởng. Nếu ngân hàng chấp thuận mở L/C thì đơn xin mở L/C của người mua được sự chấp thuận của NHPH sẽ trở thành một hợp đồng dịch vụ được ký giữa hai bên. (2): Căn cứ vào đơn yêu cầu phát hành L/C, ngân hàng sẽ phát hành một L/C bằng điện Swift, trong đó ngân hàng cam kết thanh toán cho người bán nếu người này xuất trình được chứng từ thanh toán phù hợp với các quy định của L/C. (3): NHTB nhận được L/C thì phải xác minh tính chân thật bề ngoài của L/C sau đó thông báo và gửi bản gốc L/C cho người hưởng lợi TTD.
123doc 3 (4): Người bán nhận được L/C thì phải kiểm tra L/C, nếu không chấp nhận L/C thì yêu cầu người mua sửa đổi bổ sung L/C. Khi đã chấp nhận L/C, người bán tiến hành giao hàng. (5): Sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, người bán lập chứng từ thanh toán theo yêu cầu đã nêu trong L/C gốc và các bản sửa đổi (nếu có), xuất trình chứng từ đến ngân hàng trả tiền thông qua NHTB. Nếu được ngân hàng mở L/C ủy quyền trả tiền hoặc L/C cho phép chiết khấu, NHTB sẽ kiểm tra chứng từ và thực hiện thanh toán cho người bán, sau đó chuyển bộ chứng từ để đòi lại tiền từ ngân hàng mở L/C.
(6) NHPH L/C kiểm tra chứng từ, nếu thấy chứng từ phù hợp với L/C thì trả tiền cho người bán. Nếu chứng từ có sai biệt hoặc mâu thuẫn thì từ chối trả tiền và thông báo cho các bên liên quan để giải quyết. (7) NHPH L/C chuyển bộ chứng từ cho người yêu cầu phát hành L/C với điều kiện người này trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền. (8) Người mua kiểm tra chứng từ nếu phù hợp thì hoàn tiền cho NHPH L/C, nhận chứng từ để đi nhận hàng, nếu phát hiện thấy chứng từ có sai sót so với quy định của L/C thì có quyền từ chối hoàn trả tiền, khi đó trách nhiệm thuộc về NHPH L/C.
Như đã phân tích, các quy định của phương thức này rất chặt chẽ nhằm đảm bảo quyền lợi của tất cả các bên tham gia nên quy trình kỹ thuật của nó gồm rất nhiều bước. Trong mỗi bước đều tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp mà nếu các bên không thận trọng thì sẽ dễ dàng phát sinh ra tranh chấp và rủi ro sẽ xảy ra. Ngoài ra, nếu trong phương thức thanh toán L/C còn có sự tham gia của các NHXN, ngân hàng hoàn trả tiền, … thì quy trình thanh toán này còn phức tạp hơn, vì càng có nhiều mối quan hệ giữa các bên thì càng có thể xảy ra nhiều rủi ro hơn.3 Thư tín dụng thương mại là một công cụ quan trọng của phương thức TDCT.1 Khái niệm: Thư tín dụng thương mại (Letter of Credit) - gọi tắt là L/C: là một chứng thư (điện hoặc chứng chỉ), trong đó NHPH L/C sẽ cam kết trả tiền cho Người XK nếu họ xuất trình được các chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản quy định trong L/C.2 Tính chất: L/C là những giao dịch riêng biệt với các hợp đồng mua bán, hoặc các hợp đồng khác mà các hợp đồng này có thể làm cơ sở của L/C và các Ngân hàng không bị liên can đến, hoặc bị ràng buộc vào các hợp đồng như thế thậm chí ngay cả trong L/C có bất cứ sự dẫn chiếu nào đến các hợp đồng đó.4 Các loại L/C Phụ lục 1 1.5 Các Văn bản Pháp lý liên quan đến phương thức TDCT 1.1 Giới thiệu chung về UCP600 và ISBP681 UCP 600 - Quy tắc và thực hành thống nhất về TDCT, số 600, bản sửa đổi năm 2007 của Phòng Thương mại quốc tế (Uniform Customs and Practice for Documentary Credits ICC, 2007 Revision, No 600) và có hiệu lực từ ngày 01/07/2007. Phương thức TDCT được thực hiện theo bản quy tắc và thực hành thống nhất TDCT.
Phòng thương mại quốc tế (ICC) được thành lập vào năm 1919. UCP được ban hành lần đầu tiên vào năm 1933. Việc UCP được các giới thương gia và ngân hàng của trên 174 nước và khu vực trên thế giới áp dụng là bằng chứng khẳng định sự thành công của Quy tắc này. Cần lưu ý rằng UCP là sản phẩm của một tổ chức quốc tế phi chính phủ chứ không chứ không phải là cơ quan của chính phủ các nước.
UCP là bộ quy tắc quốc tế về thương mại thành công nhất từ trước đến nay. Bản UCP sửa đổi lần thứ nhất vào năm 1951, số 151 sau 19 năm kể từ lần ban hành UCP đầu tiên trên thế giới. Sau lần sửa đổi UCP lần thứ nhất, cứ khoảng 10 năm lại sửa đổi một lần. Phải mất hơn 14 năm mới tiến hành sửa đổi UCP lần thứ sáu là do có nhiều nguyên nhân.
Để diễn giải 39 điều khoản của UCP 600, Phòng thương mại quốc tế đã tiến hành sửa đổi và bổ sung ISBP 645 2003 và ban hành ISBP 681 2007 để thay thế. ISBP681 là sự cụ thể hóa, sự bổ sung mang tính thực tiễn cho UCP600. ISBP không sửa đổi UCP và không mâu thuẫn với UCP cũng như với các ý kiến và Quyết định của Ủy ban Ngân hàng ICC, mà giải thích chi tiết và rõ ràng hơn cách 123doc 5 áp dụng các Quy tắc của UCP trong giao dịch hàng ngày. Nhờ vậy, ISBP sẽ làm giảm sự cách biệt không cần thiết giữa những nguyên tắc chung quy định trong các Quy tắc của UCP và công việc hàng ngày của những người thực hiện thanh toán bằng TDCT.2 Các văn bản pháp lý khác a.
Bản phụ trương UCP600 về việc xuất trình chứng từ điện tử. Bản diễn giải số 1.1 năm 2007 (eUCP-2002) Do trình độ công nghệ hiện đại hóa ngày càng cao nên việc xuất trình chứng từ điện tử ngày càng nhịều. Chính vì vậy ICC đã nghiên cứu và đưa ra quy định chung cho việc xuất trình chứng từ bằng điện tử. Bản phụ trương này có 12 điều và có một số quy định khác biệt với UCP b.
Quy tắc thống nhất về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng theo L/C (Uniform Rules for Bank – to – Bank Reimbursement Under Documentary Credits (URR): URR ấn bản 525 do ICC phát hành lần đầu tiên vào năm 1995, được xem như là sự mở rộng và chi tiết hoá điều khoản 19 (thỏa thuận về hoàn trả liên hàng) của UCP 500. URR 725 thay thế URR 525 là sự mở rộng và chi tiết hoá điều khoản 13 (thỏa thuận về hoàn trả liên hàng) của UCP 600, URR không mang tính chất bắt buộc các bên mua bán phải áp dụng. Tập quán L/C dự phòng (ISP98) Tập quán L/C dự phòng chỉ dùng cho loại L/C dự phòng và thường áp dụng ở thị trường Mỹ còn UCP thì áp dụng được cho cả L/C và L/C dự phòng. Khi áp dụng ISP98 người ta thường quy định vào trong L/C dự phòng đó là áp dụng theo ISP98 và luật New york.2 Rủi ro trong phƣơng thức TDCT 1.1 Khái niệm Là một trong những lĩnh vực hoạt động kinh doanh của NHTM, TTQT ra đời và phát triển không ngừng như là một tất yếu khách quan.
Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của mình, TTQT không chỉ đơn thuần mang lại những lợi ích kinh tế mà còn phát sinh những nguy cơ có thể gây ra rủi ro, tổn thất trực tiếp cho đất 123doc 6 nước, cho ngân hàng, cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh XNK. Rủi ro trong hoạt động TTQT của NHTM là vấn đề xảy ra ngoài ý muốn trong quá trình tiến hành hoạt động TTQT và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của NHTM. Trong quá trình tiến hành hoạt động TTQT, rủi ro xảy ra khi quyền lợi của một bên tham gia bị vi phạm. Rủi ro không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là việc chứng từ không được thanh toán, mà còn được hiểu rộng ra là bất kỳ một sự chậm trễ nào trong các khâu của quá trình TTQT.