Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay, phát triển cho vay DNV&N tại NHTM Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay DNV&N tai NHNo&PTNT Việt Nam — Chỉ nhánh Vĩnh Yên giai đoạn 2015 — 2017 Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay DNV&N tại NHNo&PTNT Việt Nam — Chi nhánh Vĩnh Yên CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIÊN CHO VAY DNV&N CUA NHTM 1. Tổng quan về hoạt động cho vay DNV&N tại NHTM 1. Khái quát về hoạt động cho vay tại NHTM 1. Khái quát chung về NHTM Lich sử hình thành và phát triển của ngân hàng gan liền với lịch sử phát triển của nên sản xuất hàng hoá.
Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát triển của ngân hàng. Ngày nay, việc kinh doanh dịch vụ tiền tệ không còn độc quyền của NHTM. Các hoạt động kinh doanh va làm dịch vụ không chỉ có sự tham gia của các ngân hàng mà còn có tô chức tài chính kinh doanh những loại hình tương tự như công ty bảo hiểm các loại, quỹ đầu tư, các hiệp hội tiết kiệm cho vay, các quỹ hưu trí, các TCTD tiêu dùng, các hợp tác xã tín dụng. Tuy nhiên trong bat cứ thời kì phát triển nào của các đất nước trên thé giới thì ngân hàng thương mại van là t6 chức tài chính lớn nhất, quan trọng nhất trong giới kinh doanh tiền tệ.
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều quan điểm về ngân hàng thương mại. Theo Nghị định về tô chức và hoạt động của NHTM Việt Nam, các ngân hàng được định nghĩa dựa trên hoạt động chủ yếu: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật.” Theo Giáo trình môn NHTM (2013), chủ biên PGS. Phan Thị Thu Hà, Ngân hàng được định nghĩa trên cơ sở xem xét những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp: “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tô chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.” Từ những nhận định trên có thé thay NHTM là một trong những tô chức trung gian tài chính hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh và quản lý tiền tệ với đặc trưng nhất là cung cấp da dang các sản phẩm, loại hình dịch vu tài chính với nghiệp vụ truyền thống cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều sản phâm, dịch vụ mới với bảo lãn, bao thanh toán, uỷ nhiệm thu/chi.
cùng nhiều tiện ích khác nhau và chất lượng ngày được nâng cao nhăm thoả mãn tôi đa nhu câu của khách hang và của toàn xã hội.2 Những nội dung cơ bản về cho vay a. Khái niệm Theo khoản 16 Điều 4 Luật các tô chức tín dụng (2010) “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền dé sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Khi đó NHTM sẽ chuyên nhượng tạm thời một lượng tiền mặt hoặc tài sản cho bên khách hàng vay sau một thời gian nhất định quay trở lại NHTM với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Ngân hàng có thê cho vay bằng tiền mặt hoặc chuyên khoản, tiền có thé chuyền tới tài khoản của khách hàng hoặc tài khoản của người bán hàng cho khách hàng. Do ngân hàng là người nắm giữa quyền sở hữu nên có quyền yêu cầu khách hàng vay phải tuân thủ những điều liện pháp lý nhăm đảm bảo việc trả nợ khi đến hạn.
Hoạt động cho vay là hoạt động truyền thống và là hình thức tín dụng chủ yếu, chiếm vị trí đặc biệt trong nền kinh tế, nó giúp đáp ứng nhu cầu về vốn cho việc chỉ tiêu và đầu tư mua sắm tài sản của tổ chức, cá nhân, làm tăng hiệu quả và tốc độ chu chuyền vốn trong nền kinh tế. Hoạt động cho vay ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng và nó còn mang đến nguồn thu lớn cho ngân hàng. Ngân hàng luôn luôn coi trọng việc đảm bảo an toàn và hiệu quả cho các khoản vay, chính vì vậy việc phân loại cho vay có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp ngân hàng dễ dàng hơn trong việc quản lý các rủi ro và đánh giá hiệu quả của từng loại. Phân loại cho vay * Phân loại theo phương thức cho vay - Cho vay từng lần (Cho vay theo món): Day là hình thức cho vay phô biến của NHTM mà theo đó mỗi lần có nhu cầu vay vốn khách hàng phải làm hồ sơ riêng biệt và trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay.
Ngân hàng sẽ phân tích thông tin, thẩm định tính trung thực, xác định mục đích vay, quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời han trả nợ, lãi suất và có thể yêu cầu TSDB. sau đó ký hợp đồng cho vay. Ngân hàng sẽ thu gốc và lãi theo kỳ hạn đã thoả thuận trong hợp đồng. Thường áp dụng cho khách hàng có nhu cầu vốn không thường xuyên hoặc có tính chất thời vụ.
- Cho vay theo hạn mức: Là nghiệp vụ theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng một han mức cho vay trong khoảng thời gian quy định va cho vay theo han 10 mức tín dụng đó nếu khách hàng đáp ứng đủ điều kiện của ngân hàng. Việc cho vay và thu nợ đan xen nhau, không phân định ranh giới, thời điểm cụ thé lúc nào cho vay, lúc nào thu nợ. Đặc biệt ngân hàng không xác định mức giới hạn cho từng lần vay, chỉ cần số tiền vay không vượt quá hạn mức cho vay. Như vậy người vay chỉ thực hiện hồ sơ một lần cho nhiều lần giải ngân.
Nó thường được áp dụng cho khách hàng có quan hệ tín dụng tốt, tín nhiệm cao với ngân hàng và nhu cầu vay vốn liên tục, tình hình kinh doanh tot, chu kỳ luân chuyền vốn nhanh. - Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà NHTM thoả thuận bằng văn bản chấp nhận cho khách hàng chỉ vượt số tiền có trong tài khoản thanh toán của khách hàng đến một giới hạn và khoảng thời gian nhất định phù hợp quy định về hoạt động thanh toán. * Phân loại theo phương thức trả nợ Cho vay trả góp: là hình thức cho vay mà ngân hàng yêu cầu khách hàng trả gốc và lãi làm nhiều lần theo các kỳ hạn trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận, số tiền trả trong mỗi kỳ là như nhau. Thường áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn, có thời hạn trả nợ trung va dài han, tài trợ cho TSCD hoặc hang lâu bên.
Cho vay phi trả góp: Là quá trình trả nợ không đều về kỳ hạn trả nợ và số tiền trả nợ từng kỳ hạn. Những cá nhân, tổ chức không có nguồn thu 6n định thì ngân hang sẽ xem xét hình thức cho vay phi trả góp. Căn cứ vào nguồn trả nợ, đặc điểm luân chuyền vốn và khả năng nguồn vốn.ngân hàng sẽ thoả thuận với khách hàng quy định kì hạn và số tiền phải trả, phù hợp với điều kiện cả hai bên. * Phân loại theo thời hạn cho vay - Cho vay ngắn han: Các khoản vay thường có thời hạn 1 năm trở xuống.
Các khoản vay ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng lớn trong ngân hàng do có rủi ro thấp hơn cho vay trung và dài hạn, thời gian vay ngắn và chỉ phí lãi suất thấp hơn. Hình thức cho vay này nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cau chi tiêu ngắn hạn, tiêu dùng cá nhân của nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất. - Cho vay trung và dài hạn: Là các khoản vay có thời gian vay trên một năm. Có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng cách phân loại thông thường là cho vay trung hạn từ 1 đến 5 năm, cho vay dài hạn là trên 5 năm.
Do thời gian vay dài hơn nên khả năng xảy ra rủi ro tín dụng đối với cho vay trung và dài hạn lớn hơn cho vay ngắn hạn 11 do đó lãi suất cho vay cao hon, quy trình thủ tục phức tap hon nhằm đảm bao an toàn tín dụng. Khoản vay này thường đề nhà nước đầu tư phát triển hoặc các doanh nghiệp đầu tư trang thiết bi, nâng cấp cơ sở hạ tang, mở rộng quy mô hoặc các cá nhân có nhu cầu mua nhà ở, phương tiện vận tải. Việc phân chia khoản vay theo kỳ hạn chỉ mang tính chất tương đối do có nhiều khoản vay không xác định được trước thời hạn. * Phân loại theo mục đích cho vay - Cho vay sản xuất kinh doanh: Ngân hàng cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu SXKD của các chủ thể trong nền kinh tế trên mọi lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông.
- Cho vay tiêu dùng: Phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân như: mua sim trang trải các chi phí trong đời sống sinh hoạt. Không giống như cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng là số tiền bị đem ra tiêu dùng, không tạo ra của cải hay giá trị gia tăng mới cho xã hội, vì vậy để đáp ứng yêu của khoản vay, người vay phải có nguồn tiền trả nợ độc lập như tiền lương, tiền thu từ bán các tài sản khác. * Phân loại biện pháp đảm bảo tiền vay - Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Việc này vừa là cơ sở căn cứ xác định giá trị món vay vừa thực hiện được nguyên tắc hoàn trả khi cho vay. Khi đó ngân hàng sẽ nắm giữ các tài sản thuộc sở hữu trực tiếp của người đi vay hoặc thuộc sở hữu của người bảo lãnh.
TSĐB cho phép ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ cấp bằng cách bán tài sản đó khi khi khách hàng không trả nợ hoặc trả không đủ. Các biện pháp đảm bảo tiền vay thông thường là thế chấp, bảo lãnh, cầm có. - Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản: Là hình thức cho vay mà biện pháp bao đảm không bang tài sản, khi đó biện pháp bảo đảm có thé là bảo lãnh của bên thứ ba hoặc uy tín của người vay .