Chương 1:Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về quản lý TDĐT tại NHPT Việt Nam. Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng công tác quản lý TDĐT tại Chi nhánh NHPT Hà Nam. Chương 4: Giải pháp quản lý TDĐT tại Chi nhánh NHPT Hà Nam trong thời gian tới.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ TDĐT TẠI NHPT VIỆT NAM 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu NHPT Việt Nam là tổ chức duy nhất thực hiện hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. Vì vậy, cần phải nâng cao vai trò, chức năng của NHPT Việt Nam từ đó đưa ra các chính sách nhằm hoàn thiện hoạt động cấp tín dụng đang thực hiện thông qua tổ chức này. Do vậy, việc nghiên cứu cần được tiến hành một cách có khoa học.
Để có thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn, tác giả đã tiến hành thu thập thông tin, tìm hiểu các luận văn thạc sĩ có nội dung tương tự đã được công nhận để tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra nền tảng cho quá trình hoàn thành luận văn. Đề tài và bài báo có nội dung chính liên quan đến vấn đề tác giả đang nghiên cứu là luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Tiến Tính là “giải pháp nâng cao hiệu quả công tác cho vay tín dụng đầu tư tại Chi nhánh NHPT Hà Tĩnh”, luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Văn Kiên thực hiện tại Học viện tài chính kế toán “ Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay vốn tín dụng đầu tư tại Chi nhánh NHPT Hải Dương”, các bài tạp chí của tạp chí NHPT Việt Nam. Trong luận văn của tác giả Nguyễn Tiến Tính là “giải pháp nâng cao hiệu quả công tác cho vay tín dụng đầu tư tại Chi nhánh NHPT Hà Tĩnh” trong luận văn đã nêu tổng quan chung về tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, tổng quan chung về hiệu quả công tác cho vay tín dụng đầu tư, thực trạng cho vay và giải pháp nâng cao hiệu quả vốn tín dụng đầu tư tại Chi nhánh NHPT Hà Tĩnh tuy nhiên luận văn chưa đề cập đến tổng quan cơ sở lý luận về quản lý tín dụng đầu tư và quy trình quản lý tín dụng đầu tư. 3 z Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Văn Kiên thực hiện tại Học viện tài chính kế toán “Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay vốn tín dụng đầu tư tại Chi nhánh NHPT Hải Dương” luận văn đã đề cập đến các vấn đề cơ sở lý luận về chất lượng hoạt động cho vay đầu tư trong đó có cơ sở lý luận về cơ chế cho vay đầu tư và cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng, thực trạng chất lượng cho vay đầu tư, giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đầu tư.
Luận văn đề tài“Hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư đề nghị cấp tín dụng của NHPT Việt Nam” của tác giả Đinh Thị Thu Hiền luận văn đã khái quát và hệ thống hóa các lý thuyết về thẩm định tài chính dự án đầu tư; Phân tích các hoạt động tín dụng dài hạn của NHPT; Phân tích những bất cập, hạn chế của nghiệp vụ này; Từ những bất cập tồn tại trong công tác thẩm định tài chính dự án nhóm nghiên cứu đưa ra nguyên tắc hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư; các giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư đề nghị cấp tín dụng của NHPT. Tuy nhiên luận văn chưa đề cập đến việc thẩm định các dự án đang đầu tư dở dang có nhu cầu vay vốn NHPT Việt Nam và các vấn đề bất cập tồn tại khi thẩm định dự án đầu tư dở dang. Một số vấn đề lý luận chung về quản lý TDĐT tại NHPT Việt Nam 1. Khái niêm quản lý: Theo Phan Huy Đường, 2012.
”Quản lý Nhà nước về kinh tế. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội” Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật. Đối tượng quản lý, khách thể quản lý chủ yếu là quản lý con người. Ngoài ra còn quản lý các khách thể khác như tài nguyên, cơ sở vật chất kỹ thuật.Chủ thể quản lý có thể là một người, một tổ chức, một bộ máy .Vì thế nói đến quản lý là phải nói đến một cơ chế vận hành, tức là cơ chế quản lý (như chế độ, chính sách, biện pháp tổ chức, tâm lý xã hội).
Cơ sở lý luận về Quản lý TDĐT của Nhà nƣớc 1. Khái niệm - TDĐT là một hình thức tín dụng nhằm thực hiện chính sách đầu tư phát triển của Nhà nước, thể hiện mối quan hệ vay, trả giữa Nhà nước (do NHPT đại diện) với các pháp nhân, thể nhân hoạt động trong nền kinh tế, được Nhà nước hỗ trợ với chính sách ưu đãi với từng đối tượng cụ thể nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhất định theo định hướng của Nhà nước. - TDĐT phát triển ra đời khi việc sử dụng vốn ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển chuyển từ việc cấp phát không hoàn lại sang hình thức cho vay có hoàn lại là chủ yếu. Cùng mục đích như các hình thức tín dụng khác, TDĐT phát triển không chỉ giúp cho nền kinh tế tập trung được lượng vốn cần thiết mà còn có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo toàn và phát triển được nguồn vốn cho đầu tư phát triển.
- Cũng như hoạt động tín dụng nói chung, TDĐT bao gồm 2 mặt hoạt động: hoạt động huy động vốn và hoạt động sử dụng vốn. Cho vay vốn TDĐT của Nhà nước (cho vay đầu tư) là một hình thức của hoạt động sử dụng vốn TDĐT của Nhà nước. - TDĐT của Nhà nước là kênh hỗ trợ vốn cho các dự án đầu tư của các thành phần kinh tế thuộc các ngành, lĩnh vực, các vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn cần được khuyến khích đầu tư và các chương trình kinh tế lớn quan trọng của Nhà nước có tác dụng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. - Theo quy định tại Nghị định 75/2011/NĐ-CP, Tín dụng đầu tư của Nhà nước, bao gồm: Cho vay đầu tư, hỗ trợ sau đầu tư.
Trong đó, Cho vay đầu tư là việc NHPT Việt Nam cho các chủ đầu tư vay vốn để thực hiện dự án 5 z đầu tư. Như vậy, Cho vay đầu tư là một hoạt động của Chính sách Tín dụng đầu tư của Nhà nước nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư có dự án đầu tư thuộc Danh mục các dự án vay vốn Tín dụng đầu tư được Chính phủ ban hành trong từng thời kỳ, với các ưu đãi về lãi suất, về đảm bảo tiền vay, thời hạn vay,. Chủ thể quản lý vốn TDĐT của Nhà nƣớc - Cùng với việc Việt Nam chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, các hoạt động tín dụng chính sách đã dần tách khỏi tín dụng thương mại, một bộ phận nguồn vốn cấp phát từ NSNN được chuyển thành vốn tín dụng ưu đãi. Sự ra đời của Quỹ HTPT (ngày 01/01/2000) với mô hình tổ chức tài chính Nhà nước nhằm đảm nhận nhiệm vụ tín dụng ưu đãi trong quá trình chuyển đổi của nền kinh tế , việc hình thành và phát triển hệ thống Quỹ HTPT để thực hiện chính sách TDĐT và TDXK của Nhà nước là bước kế tiếp thành công của sự đổi mới mô hình tổ chức tài chính của Chính phủ trong điều hành kinh tế vĩ mô.
Trong điều kiện khả năng tích luỹ của NSNN cho đầu tư phát triển có hạn, cùng với các chính sách thu hút đầu tư, Chính phủ đã có thêm công cụ khai thác nguồn vốn trong xã hội để hỗ trợ phát triển các ngành, các vùng, các sản phẩm trọng điểm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và khai thác những tiềm năng to lớn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước. - Để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức tài trợ phát triển, phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế trong tình hình mới, ngày 19/5/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg về việc thành lập NHPT Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại hệ thống Quỹ HTPT để tiếp tục thực hiện chính sách TDĐT và TDXK của Nhà nước. NHPT Việt Nam được Chính phủ giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện chính sách TDĐT và TDXK của Nhà nước theo quy định tại Nghị định 75/2011/NĐ-CP ngày 20/11/2011 và các nghị định sửa đổi, bổ sung. 6 z - NHPT là một kênh hỗ trợ của Nhà nước thông qua chính sách tín dụng ưu đãi.
NHPT không thực hiện cho vay dàn trải tất cả các dự án mà tập trung vào những dự án mang tính chất cấp bách theo định hướng và chiến lược phát triển kinh tế của Nhà nước trong từng thời kỳ. NHPT thực hiện cho vay đầu tư theo quy định của Chính phủ căn cứ kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ giao hàng năm. - Lợi ích NHPT vươn tới là các lợi ích mang tính chất công, trong đó NHPT hỗ trợ các doanh nghiệp và các vùng có tác động mạnh tới quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bên cạnh đó, NHPT tài trợ các dự án phát triển có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và tài trợ các dự án theo chỉ định của Chính phủ.
Ngoài các dự án NHPT tài trợ theo chỉ định của Chính phủ, về cơ bản, sự tài trợ của NHPT vẫn dựa trên nguyên tắc phải hoàn trả cả gốc và lãi của tín dụng ngân hàng. Do đó, NHPT phải xác định được các dự án có hiệu quả đồng thời tăng cường giám sát trước, trong và sau khi cho vay. - Trải qua thời gian hoạt động từ khi thành lập tới nay, NHPT đã từng bước phát huy vai trò của một Ngân hàng Chính phủ trong việc huy động các nguồn vốn, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính, đáp ứng nhu cầu cho vay đầu tư, cho vay xuất khẩu để phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Hoạt động của NHPT đã tác động tích cực tới sự tăng trưởng của nền kinh tế và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH đất nước.