MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển, xã hội ngày càng văn minh hiện đại. Cùng với sự phát triển của kinh tế thì các vấn đề khác trong xã hội như y tế, văn hóa, giáo dục ngày càng được quan tâm và được đầu tư nâng cao, chất lượng cuộc sống của mọi người ngày càng được cải thiện. Nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân hơn nữa, đã có nhiều các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ra đời, có nhiều bệnh viện, cơ sở y tế được xây dựng.
Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ quan trọng của ngành y tế. Nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, hệ thống các cơ sở y tế không ngừng được tăng cường, mở rộng và hoàn thiện.Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà các cơ sở y tế, bệnh viện đem tới cho người dân thì các cơ sở này cũng đồng thời thải ra các chất thải y tế nguy hại với số lượng lớn. Cùng với xu thế sử dụng các sản phẩm chỉ dùng một lần trong y tế càng khiến lượng chất thải nguy hại phát sinh ngày càng nhiều hơn, gây nguy hiểm cho môi trường và con người. Theo tổ chức y tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% là chất thải gây độc hại như phóng xạ, chất gây độc tế bào, các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điều trị, đó là những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, lan truyền mầm bệnh từ các bệnh viện tới các vùng xung quanh, dẫn tới tăng tỉ lệ bệnh tật của công đồng dân cư sinh sống xung quanh.
[6] Chất thải bệnh viện khi thải ra môi trường nếu không được xử lý đúng cách thì hậu quả để lại sẽ không thể lường hết được nó có thể gây ra các đại dịch lớn cho cộng đồng, gây ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước, môi trường đất từ đó quay trở lại ảnh hưởng tới cuộc sống của con người. Do vậy việc quản lý chất thải bệnh viện cần phải đặt lên hàng đầu tại mỗi cơ sở đặc biệt là tại cấp huyện bởi những bệnh viện này thường ít quan tâm đến việc 2 quản lý chất thải do cơ sở mình thải ra mặc dù khối lượng chất thải tạo ra là không nhỏ. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội thì hệ thống các bệnh viện, các cơ sở y tế của nhà nước và tư nhân đã và đang được đầu tư và xây dựng trên phạm vi cả nước, đồng nghĩa với việc kéo theo khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh nhiều hơn. Các chất thải y tế nguy hại phát sinh từ bệnh viện hay các cơ sở y tế nếu không qua quá trình xử lý đúng cách thì sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng không lường trước được.
Nó sẽ gây ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người,cũng là nguyên nhân bùng phát đại dịch. [6] Xuất phát từ những vấn đề đó, được sự đồng ý của Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm Khoa Môi Trường, dưới sự hướng dẫn của Cô giáo Ths. Dương Minh Ngọc, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải y tế nguy hại và đề xuất mạng lưới thu gom tại các cơ sở y tế trên địa bàn huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu tổng quát - Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải ý tế nguy hại tại các cơ sở y tế trên địa bàn huyện Định Hóa, Tỉnh Thái Nguyên. Từ đó đề xuất mạng lưới thu gom chất thải y tế nguy hại phù hợp với điều kiện của địa phương. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải y tế nguy hại trên địa bàn huyện Định Hóa. - Đánh giá thực trạng phân loại, thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại địa bàn huyện Định Hóa.
- Đề xuất mạng lưới thu gom rác thải y tế trên địa bàn huyện Định Hóa 1. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá sơ lược tình hình cơ bản của các cơ sở y tế trên địa bàn huyện Định Hóa. 3 - Hiện trạng quản lý, phân loại, thu gom, quản lý và xử lý chất thải y tế trên địa bàn huyện Định Hóa. - Đề xuất mạng lưới thu gom rác thải y tế trên địa bàn huyện Định Hóa.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Vận dụng, phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu áp dụng vào thực tế, từ đó bổ sung những kiến thức, kỹ năng còn thiếu cho bản thân. Trau dồi khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình làm đề tài. Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các cơ quan trong các ngành và các sinh viên khóa tiếp theo.
Ý nghĩa trong thực tiễn Đánh giá được các mặt tích cực, hạn chế trong công tác quản lý và xử lý chất thải y tế nguy hại trên địa bàn huyện Định Hóa. Đưa ra được các đề xuất hiệu quả và khả thi trong công tác quản lý chất thải y tế nguy hại trên địa bàn huyện Định Hóa. Đề xuất mạng lưới thu gom chất thải y tế nguy hại phù hợp với điều kiện của địa phương. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở lý luận của đề tài 2. Một số khái niệm liên quan Theo Quy chế Quản lý CTYT của Bộ Y tế ban hành tại Quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 quy định [2]: - Chất thải y tế: là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường. - Chất thải y tế nguy hại: là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn. - Quản lý chất thải y tế: là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện.
- Giảm thiểu chất thải y tế: là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải chất thải y tế, bao gồm: giảm lượng chất thải y tế tại nguồn, sử dụng các sản phẩm có thể tái chế, tái sử dụng, quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hành và phân loại chất thải chính xác. - Tái sử dụng: là việc sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết tuổi thọ sản phẩm hoặc sử dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đích mới. -Tái chế: là việc tái sản xuất các vật liệu thải bỏ thành những sản phẩm mới. - Thu gom chất thải tại nơi phát sinh: là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế.
- Vận chuyển chất thải: là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tới nơi xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hủy. 5 - Xử lý ban đầu: là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy. - Xử lý và tiêu hủy chất thải: là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường [2]. Phân loại chất thải y tế Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau [2]: 2.
Chất thải lây nhiễm: Bảng 2.1 Phân nhóm chất thải y tế Phân nhóm Tên phân nhóm Thành phần Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây A Chất thải sắc nhọn truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế. Chất thải lây Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh B nhiễm không sắc học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ nhọn buồng bệnh cách ly. Là chất thải phát sinh trong các phòng xét Chất thải có nguy C nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, cơ lây nhiễm cao dính bệnh phẩm. Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể D Chất thải giải phẫu người: rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm.
Chất thải hóa học nguy hại: a) Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng. b) Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế. c) Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu. d) Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị) [2].
Chất thải phóng xạ: Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất. Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế [2]. Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung. Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt [2].
Chất thải thông thường: Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm [2]: a) Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly).