Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sự phát triển kinh tế - xã hội cùng với nhu cầu chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân đã thúc đẩy hệ thống y tế tại Việt Nam không ngừng mở rộng về quy mô và năng lực khám chữa bệnh. Tuy nhiên, đi đôi với sự gia tăng của các cơ sở y tế và xu hướng áp dụng các sản phẩm, vật tư tiêu hao sử dụng một lần là sự gia tăng nhanh chóng của chất thải y tế nguy hại. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) được trích dẫn trong công trình, trong tổng lượng chất thải bệnh viện phát sinh có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% là chất thải gây độc hại (chất phóng xạ, hóa chất độc hại, chất gây độc tế bào dùng trong chẩn đoán và điều trị). Đây là nguồn nguy cơ trực tiếp gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và làm gia tăng nguy cơ lan truyền dịch bệnh sang cộng đồng dân cư xung quanh nếu không được thu gom, xử lý theo quy chuẩn kỹ thuật an toàn.
Tại tuyến y tế cơ sở, đặc biệt là khu vực miền núi cấp huyện, công tác quản lý chất thải y tế thường gặp nhiều khó khăn do hạn chế về kinh phí đầu tư, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và sự thiếu đồng bộ trong mạng lưới thu gom, dù khối lượng phát thải phát sinh không hề nhỏ. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Lộc Anh Tú đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Khoa học Môi trường tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (năm 2017), dưới sự hướng dẫn của ThS. Dương Minh Ngọc, nhằm khảo sát và đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý chất thải y tế nguy hại tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định rõ ràng thành hai cấp độ:
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải y tế nguy hại tại các cơ sở y tế trên địa bàn huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên; từ đó đề xuất mạng lưới thu gom chất thải y tế nguy hại phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải y tế nguy hại trên địa bàn huyện Định Hóa.
- Đánh giá thực trạng phân loại, thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại địa bàn huyện Định Hóa.
- Đề xuất mạng lưới thu gom rác thải y tế trên địa bàn huyện Định Hóa.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý chất thải y tế nguy hại. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian bao quát toàn bộ hệ thống cơ sở y tế trên địa bàn huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên (gồm 1 bệnh viện đa khoa tuyến huyện, 1 trung tâm y tế huyện quản lý 23 trạm y tế xã/thị trấn và 12 cơ sở y tế ngoài công lập/phòng khám tư nhân). Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa và thu thập số liệu được triển khai từ ngày 15/02/2017 đến ngày 22/04/2017, kết hợp với các dữ liệu thứ cấp thống kê hoạt động quản lý môi trường năm 2016 tại địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên hệ thống các khái niệm chuẩn tắc về quản lý chất thải y tế và danh mục văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tại thời điểm nghiên cứu:
- Hệ thống văn bản pháp lý: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị; Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015; Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu; Nghị định số 179/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Quyết định số 2149/2009/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn; Quyết định số 2211/QĐ-TTg về quy hoạch quản lý chất thải rắn lưu vực sông Cầu đến năm 2020; Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 quy định về quản lý chất thải y tế; Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế; cùng các văn bản chỉ đạo của địa phương như Chỉ thị số 21/CT-UBND ngày 30/10/2012 và Quyết định số 32/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thái Nguyên.
- Khung phân loại và kỹ thuật xử lý: Khóa luận hệ thống hóa 5 nhóm chất thải lây nhiễm theo quy định: Nhóm A (chất thải sắc nhọn như bơm kim tiêm, dao mổ, mảnh thủy tinh vỡ), Nhóm B (chất thải lây nhiễm không sắc nhọn thấm máu và dịch cơ thể), Nhóm C (chất thải nguy cơ lây nhiễm cao từ phòng xét nghiệm), Nhóm D (chất thải giải phẫu, mô, rau thai, bệnh phẩm), cùng nhóm chất thải hóa học nguy hại (dược phẩm quá hạn, hóa chất xét nghiệm, chất hàn răng amalgam chứa thủy ngân), chất thải phóng xạ, bình chứa áp suất và chất thải thông thường. Đồng thời, văn bản tổng quan các công nghệ xử lý cơ bản: khử trùng (hóa chất, nhiệt ướt áp suất cao, siêu cao tần), chôn lấp (hợp vệ sinh hoặc chôn lấp có xử lý) và công nghệ thiêu đốt nhiệt độ cao.
Để giải quyết các nhiệm vụ đề ra, tác giả sử dụng tổ hợp 5 phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu khí tượng, thủy văn, điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Định Hóa; các báo cáo thống kê chuyên môn của Bệnh viện Đa khoa Định Hóa, Trung tâm Y tế huyện và Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên liên quan đến giường bệnh, lượt khám và hồ sơ quản lý môi trường.
- Phương pháp điều tra thực địa: Trực tiếp quan sát, khảo sát quy trình vận hành phân loại tại nguồn ở các khoa/phòng, vị trí đặt thùng chứa, tình trạng nhà lưu giữ tạm thời, hệ thống xử lý nước thải và quy trình đốt tiêu hủy tại lò đốt F-1K của Bệnh viện Đa khoa huyện Định Hóa cũng như các hố xử lý tại trạm y tế xã.
- Phương pháp điều tra phỏng vấn bằng bảng hỏi: Tác giả thiết kế và phát 60 phiếu điều tra cấu trúc cho các nhóm đối tượng:
- 30 phiếu điều tra dành cho cơ sở y tế có quy mô trên 50 giường bệnh (khảo sát các khoa, phòng thuộc Bệnh viện Đa khoa huyện Định Hóa).
- 30 phiếu điều tra dành cho các cơ sở y tế có quy mô dưới 50 giường bệnh (khảo sát đại diện cán bộ phụ trách tại các trạm y tế xã và phòng khám tư nhân).
- Đối tượng phỏng vấn: Cán bộ quản lý y tế, cán bộ chuyên trách môi trường, y bác sĩ và hộ lý trực tiếp tham gia phân loại, thu gom chất thải.
- Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Trao đổi, phỏng vấn sâu cán bộ phụ trách kiểm soát nhiễm khuẩn, nhân viên vận hành hệ thống xử lý chất thải rắn của huyện và giảng viên chuyên ngành hướng dẫn.
- Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê, tổng hợp dữ liệu thu thập qua bảng biểu trên máy tính, so sánh đối chiếu với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường và chỉ số an toàn y tế.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần mở đầu tập trung luận giải tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh các dịch vụ y tế tại huyện miền núi Định Hóa gia tăng, kéo theo sự phát sinh chất thải y tế nguy hại phức tạp. Văn bản xác định rõ mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, 3 yêu cầu cốt lõi và ý nghĩa của đề tài đối với công tác đào tạo học thuật chuyên ngành Môi trường cũng như cung cấp căn cứ thực tiễn cho cơ quan quản lý tại địa phương.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này cung cấp bức tranh lý luận và thực tiễn diện rộng:
- Cơ sở lý thuyết: Trình bày chi tiết các định nghĩa pháp lý theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT; phân nhóm cụ thể các loại chất thải y tế (lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, bình áp suất, chất thải sinh hoạt); thành phần lý - hóa - sinh của chất thải rắn y tế; phân tích ưu nhược điểm của các phương pháp xử lý như khử trùng bằng hóa chất/nhiệt, thiêu đốt nhiệt độ cao và chôn lấp.
- Thực tiễn quốc tế và trong nước: Nêu bật các vụ bê bối rác thải y tế tại Ấn Độ (lây lan virus viêm gan B gây tử vong 56 người do bán trộm vật tư y tế qua sử dụng), nghiên cứu xử lý tại Iran; phân tích 6 bất cập lớn do Bộ Y tế Việt Nam chỉ ra vào năm 2012 (cả nước phát sinh khoảng 140 tấn rác y tế/ngày, trong đó hơn 30 tấn nguy hại; 27% bệnh viện còn đốt lộ thiên hoặc chôn lấp không đúng quy chuẩn; thiếu thiết bị thu gom chuẩn hóa và thiếu kinh phí vận hành).
- Thực trạng tại tỉnh Thái Nguyên: Toàn tỉnh năm 2016 có 574 cơ sở khám chữa bệnh với 5.294 giường bệnh, phát sinh trên 1 tấn rác thải/ngày. Có 13/17 bệnh viện trực thuộc Sở Y tế thuê đơn vị dịch vụ xử lý, 4 bệnh viện tự xử lý bằng lò đốt. Phân tích chi tiết tác động tiêu cực của chất thải y tế nguy hại tới ba thành phần môi trường tự nhiên (đất, nước, không khí) và sức khỏe cán bộ y tế cũng như cộng đồng dân cư xung quanh.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương 3 quy định khung triển khai cụ thể của nghiên cứu:
- Xác định đối tượng là công tác quản lý chất thải y tế nguy hại; thời gian khảo sát từ 15/02/2017 đến 22/04/2017 tại huyện Định Hóa.
- Phân định rõ 3 nội dung nghiên cứu lớn: (1) Tổng quan cơ sở y tế trên địa bàn; (2) Đánh giá hiện trạng phát sinh, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải y tế; chỉ ra hạn chế tồn tại; (3) Đề xuất mạng lưới thu gom chất thải y tế nguy hại.
- Mô tả chi tiết cách thức thực hiện của 5 phương pháp: thu thập thứ cấp, khảo sát thực địa, điều tra bảng hỏi (phân bổ 60 phiếu cho hai nhóm quy mô cơ sở y tế), phỏng vấn chuyên gia và xử lý thống kê so sánh.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ số liệu điều tra thực nghiệm:
- Hiện trạng mạng lưới y tế huyện Định Hóa: Toàn huyện có 2 cơ sở y tế công lập tuyến huyện gồm Bệnh viện Đa khoa huyện Định Hóa (thành lập năm 2008 từ việc chia tách Trung tâm Y tế; đến tháng 02/2017 được nâng từ hạng III lên hạng II, quy mô 275 giường bệnh, 123 nhân sự, 12 phòng/khoa, công suất sử dụng giường bệnh đạt gần 200%, khám trên 80.000 lượt bệnh nhân/năm) và Trung tâm Y tế huyện (33 cán bộ, quản lý 24 trạm y tế xã, thị trấn). Tuyến xã có 23 trạm y tế xã hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu. Tuyến ngoài công lập gồm 12 phòng khám tư nhân (chuyên khoa răng hàm mặt, siêu âm). Toàn huyện có 56 bác sĩ, đạt tỷ lệ 6 bác sĩ/1 vạn dân.
- Nguồn phát sinh và khối lượng chất thải:
Chất thải lây nhiễm phát sinh chủ yếu tại khoa lâm sàng, cận lâm sàng, phòng xét nghiệm, phòng mổ, phòng đẻ và phòng khám răng. Tổng khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh trên địa bàn huyện đạt 471,3 kg/tháng.
Bảng 1: Khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh hàng tháng tại huyện Định Hóa (theo Bảng 4.2)
| STT |
Loại hình cơ sở y tế |
Số lượng cơ sở |
Khối lượng phát sinh (kg/tháng) |
Tỷ lệ đóng góp (%) |
| 1 |
Bệnh viện Đa khoa huyện Định Hóa |
01 |
380,1 |
80,65 |
| 2 |
Các trạm y tế tuyến xã |
23 |
42,0 |
8,91 |
| 3 |
Các cơ sở y tế tư nhân / phòng khám |
12 |
49,2 |
10,44 |
| Tổng |
Toàn địa bàn huyện |
36 |
471,3 |
100,00 |
Bảng 2: Thành phần và khối lượng chi tiết chất thải y tế nguy hại phát sinh (theo Bảng 4.3)
| TT |
Thành phần chất thải nguy hại |
Đơn vị |
Bệnh viện Đa khoa Định Hóa |
Trạm y tế xã |
Cơ sở tư nhân |
| I |
Chất thải lây nhiễm |
|
|
|
|
| 1 |
Chất thải sắc nhọn (kim tiêm, dao mổ...) |
kg/tháng |
25,0 |
36,0 |
18,0 |
| 2 |
Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn |
kg/tháng |
270,0 |
6,0 |
30,0 |
| 3 |
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao |
kg/tháng |
60,0 |
0,0 |
0,0 |
| 4 |
Chất thải giải phẫu |
kg/tháng |
4,0 |
0,0 |
0,0 |
| II |
Chất thải nguy hại khác |
|
|
|
|
| 1 |
Chất hàn răng amalgam thải |
kg/tháng |
0,2 |
0,0 |
~0,1/cơ sở |
| 2 |
Bóng đèn huỳnh quang hỏng |
kg/tháng |
1,0 |
0,0 |
0,0 |
| Tổng |
|
kg/tháng |
380,2 - 380,3 |
42,0 |
49,2 |
- Hiện trạng phân loại, thu gom, lưu giữ và vận chuyển:
- Phân loại: Thực hiện tương đối nghiêm túc tại nơi phát sinh. Bệnh viện Đa khoa Định Hóa sử dụng hệ thống màu sắc theo quy định: màu vàng cho chất thải lâm sàng và vật sắc nhọn; màu đen cho chất thải hóa học nguy hại và phóng xạ; màu xanh cho chất thải sinh hoạt; màu trắng cho chất thải tái chế. Tại trạm y tế và phòng khám tư nhân, phân loại chủ yếu tách biệt vật sắc nhọn và rác thông thường.
- Thu gom và trang thiết bị: Bệnh viện huyện có hộ lý thu gom ít nhất 1 lần/ngày và có 01 cán bộ chuyên trách quản lý môi trường. Trang thiết bị thu gom gồm: Bệnh viện Đa khoa có 6 thùng rác (dung tích 10 - 250 lít), 4 xe đẩy rác, 10 cuốc/xẻng, 16 chổi quét; 23 trạm y tế xã có 2 thùng rác, 1 xe đẩy, 7 cuốc/xẻng, 15 chổi; khối phòng khám tư nhân có 1 thùng rác, 3 chổi quét và không có xe đẩy.
- Lưu giữ: Bệnh viện huyện và trạm y tế xã bố trí khu lưu giữ cách xa buồng bệnh, nhà ăn tối thiểu 10m, có mái che, khóa cửa và nền chống thấm. Thời gian lưu giữ dưới 48 giờ ở nhiệt độ thường và không quá 72 giờ trong tủ bảo ôn/kho lạnh. Cơ sở tư nhân lưu trữ tạm thời trong thùng kín hoặc xe đẩy.
- Vận chuyển nội viện: Bệnh viện huyện vận chuyển định kỳ 1 lần/ngày theo giờ cố định bằng xe chuyên dụng có nắp đậy. Tuy nhiên, vẫn còn hiện tượng nhân viên y tế xách tay các túi rác qua các hành lang khoa phòng trước khi tập kết.
Bảng 3: Thống kê phát sinh và xử lý chất thải tại Bệnh viện Đa khoa Định Hóa năm 2016 (theo Bảng 4.10)
| Mã chất thải |
Loại chất thải y tế phát sinh |
Đơn vị tính |
Khối lượng phát sinh |
Khối lượng tự xử lý tại chỗ |
Phương thức xử lý |
| 130101 |
Chất thải lây nhiễm sắc nhọn |
kg/năm |
1.095 |
1.095 |
Lò đốt F-1K |
| 130101 |
Lây nhiễm không sắc nhọn |
kg/năm |
3.240 |
3.240 |
Lò đốt F-1K |
| 130101 |
Nguy cơ lây nhiễm cao |
kg/năm |
730 |
730 |
Lò đốt F-1K |
| 130101 |
Chất thải giải phẫu |
kg/năm |
15 |
15 |
Lò đốt F-1K |
| 130102 |
Hóa chất thải bỏ nguy hại |
kg/năm |
2 |
2 |
Lò đốt F-1K |
| 130302 |
Thiết bị hỏng chứa thủy ngân |
kg/năm |
0,3 |
0 |
Chuyển giao đơn vị chức năng |
| 130104 |
Chất hàn răng amalgam thải bỏ |
kg/năm |
0,5 |
0 |
Chuyển giao đơn vị chức năng |
- Hiện trạng xử lý tại tuyến xã và tư nhân:
Tại 23 trạm y tế xã, tổng lượng chất thải rắn nguy hại năm 2016 là 504 kg (gồm 432 kg sắc nhọn và 72 kg lây nhiễm khác). Do lượng phát sinh dưới 600 kg/năm và thiếu kinh phí, toàn bộ các trạm y tế đều tiêu hủy bằng hình thức đốt thủ công trong hố đào hoặc chôn lấp tại chỗ trong khuôn viên trạm. Các cơ sở tư nhân phát sinh khoảng 216 kg chất thải sắc nhọn/năm, thực hiện hợp đồng thuê công ty môi trường đô thị thu gom đưa đi xử lý tập trung. Về kinh phí, Bệnh viện Đa khoa Định Hóa dành ngân sách xử lý chất thải ghi nhận trong văn bản là 75.000 đồng/năm.
- Tồn tại chính: Thiếu quy chế nội bộ chi tiết tại từng cơ sở; nguy cơ rách vỡ túi rác khi xách tay vận chuyển nội viện; cơ sở tư nhân và trạm y tế xã thiếu kho lưu giữ đạt chuẩn; việc đốt hố thủ công và chôn lấp tại các trạm y tế xã gây nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, khói bụi không khí và ô nhiễm mạch nước ngầm.
- Đề xuất mạng lưới thu gom: Tác giả kiến nghị xây dựng mạng lưới thu gom theo 2 phương án tùy thuộc vào hạ tầng giao thông miền núi: phương án thu gom nội bộ tập kết về lò đốt trung tâm của bệnh viện huyện và phương án ký hợp đồng chuyển giao đồng bộ cho đơn vị dịch vụ môi trường chuyên nghiệp thu gom định kỳ.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã định lượng hóa và phân tích cụ thể công tác quản lý chất thải y tế tại một địa bàn miền núi với các kết quả xác thực:
- Xác lập bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm về lượng phát sinh chất thải y tế nguy hại trên địa bàn huyện Định Hóa đạt tổng cộng 471,3 kg/tháng; trong đó Bệnh viện Đa khoa huyện chiếm ưu thế áp đảo với 380,1 kg/tháng (tương đương 80,65%), khối trạm y tế xã tạo ra 42 kg/tháng và khối tư nhân đóng góp 49,2 kg/tháng.
- Làm rõ cấu cấu thành phần chất thải nguy hại: chất thải lây nhiễm không sắc nhọn chiếm khối lượng lớn nhất tại bệnh viện huyện (270 kg/tháng), trong khi tại tuyến xã, chất thải sắc nhọn (bơm kim tiêm) chiếm tỷ trọng chủ đạo (36 kg/tháng trên tổng số 42 kg/tháng).
- Phản ánh rõ khoảng cách công nghệ xử lý: Trong khi bệnh viện đa khoa tuyến huyện đã có lò đốt F-1K (vận hành đốt 3 lần/tuần, xử lý trên 5 tấn chất thải lây nhiễm/năm 2016) và hệ thống xử lý nước thải y tế vận hành hàng ngày, thì 100% trạm y tế tuyến xã (23 trạm) vẫn phải tiêu hủy bằng biện pháp chôn lấp hoặc đốt hố thủ công, không có hệ thống xử lý khí thải và nước thải đạt chuẩn.
- Đóng góp thực tiễn của công trình thể hiện ở việc chỉ rõ các mắt xích rủi ro trong quản lý nội viện (vận chuyển bằng tay, thiếu thùng chứa chuyên dụng tại tuyến xã) và xây dựng 2 phương án tổ chức mạng lưới thu gom tập trung thích ứng với đặc thù giao thông miền núi, tạo cơ sở để chính quyền địa phương và ngành y tế quy hoạch hệ thống quản lý môi trường y tế bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu tại thời điểm thực hiện:
- Thời gian khảo sát thực địa tương đối ngắn (khoảng hơn 2 tháng, từ giữa tháng 2 đến cuối tháng 4/2017), nên số liệu phát thải chủ yếu mang tính thời điểm và dựa trên số sách thống kê lưu trữ của năm 2016.
- Đề tài tập trung chuyên sâu vào chất thải rắn y tế nguy hại, chưa tiến hành lấy mẫu và phân tích thực nghiệm các chỉ tiêu hóa lý, vi sinh của nước thải y tế sau hệ thống xử lý hay nồng độ các chất ô nhiễm trong khí thải (Dioxin/Furan, CO, SO2, NOx) từ ống khói lò đốt F-1K.
- Số liệu tại 23 trạm y tế xã phần lớn dựa trên số liệu điều tra phỏng vấn ước tính và sổ ghi chép định kỳ do các trạm không có cân định lượng chuyên dụng.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Khảo sát chi tiết bài toán kinh tế - kỹ thuật (chi phí vận chuyển, chi phí nhiên liệu, định mức nhân công) cho từng cung đường thu gom theo 2 phương án đề xuất; đồng thời mở rộng đánh giá mức độ phát tán ô nhiễm và ảnh hưởng sức khỏe nghề nghiệp của nhân viên y tế tại các lò đốt và hố chôn lấp thủ công cấp xã.
Giá trị tham khảo
Công trình có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Quản lý Y tế: Cung cấp tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp luận khảo sát, thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn cơ sở y tế (chia theo quy mô trên và dưới 50 giường bệnh) và cách thức cấu trúc một báo cáo đánh giá hiện trạng chất thải nguy hại.
- Cán bộ quản lý môi trường tại Trung tâm Y tế huyện và Phòng Tài nguyên và Môi trường: Tham khảo bức tranh toàn cảnh về thành phần, định mức phát sinh rác thải y tế để xây dựng phương án đấu thầu thu gom, vận chuyển chất thải y tế nguy hại liên xã, liên huyện.
- Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống các bảng số liệu chi tiết (từ Bảng 4.1 đến Bảng 4.11), đặc biệt là dữ liệu thống kê phân loại thiết bị thu gom, thời gian lưu giữ, định mức phát sinh chất thải theo từng khoa phòng và quy trình vận hành lò đốt F-1K tại Bệnh viện Đa khoa huyện Định Hóa.
Câu hỏi thường gặp
1. Khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh hàng tháng trên toàn huyện Định Hóa là bao nhiêu và phân bổ như thế nào?
Tổng khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh trên địa bàn huyện là 471,3 kg/tháng. Trong đó, Bệnh viện Đa khoa huyện Định Hóa phát sinh nhiều nhất với 380,1 kg/tháng (chiếm khoảng 80,65%); 23 trạm y tế xã phát sinh 42 kg/tháng (8,91%); và 12 cơ sở y tế ngoài công lập/phòng khám tư nhân phát sinh 49,2 kg/tháng (10,44%).
2. Bệnh viện Đa khoa huyện Định Hóa xử lý chất thải lây nhiễm bằng công nghệ gì và tần suất hoạt động ra sao?
Bệnh viện Đa khoa huyện Định Hóa lưu trữ chất thải lây nhiễm trong tủ bảo ôn và tiêu hủy bằng lò đốt chất thải y tế model F-1K do Sở Tài nguyên và Môi trường đầu tư. Lò đốt được vận hành với tần suất 3 lần mỗi tuần. Riêng các chất thải chứa thủy ngân (0,3 kg/năm) và chất hàn răng amalgam (0,5 kg/năm) không đốt mà được lưu giữ để chuyển giao cho đơn vị có chức năng xử lý.
3. Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế nguy hại tại 23 trạm y tế xã trên địa bàn huyện Định Hóa diễn ra như thế nào?
Do lượng phát sinh tại mỗi trạm ít (tổng toàn bộ 23 trạm là 504 kg/năm 2016, bình quân dưới 600 kg/năm/trạm) và khó khăn về nguồn kinh phí, 100% trạm y tế xã đều xử lý chất thải bằng biện pháp đốt thủ công trong hố đào hoặc chôn lấp tại chỗ trong khuôn viên trạm, chưa có lò đốt đạt chuẩn hay hệ thống xử lý khí thải.
4. Điểm hạn chế đáng chú ý nhất trong khâu vận chuyển chất thải nội viện tại Bệnh viện Đa khoa huyện Định Hóa là gì?
Mặc dù bệnh viện có quy định giờ vận chuyển cố định và có xe chuyên dụng có nắp đậy, thực tế khảo sát cho thấy các túi chất thải rắn nguy hại từ các khoa phòng vẫn hoàn toàn được nhân viên xách bằng tay đi qua các hành lang, khu vực tập trung người bệnh đến nơi tập kết, tiềm ẩn nguy cơ rơi vãi, rách vỡ bao bì phát tán mầm bệnh.
5. Kinh phí dành cho công tác xử lý chất thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa Định Hóa được văn bản ghi nhận là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê điều tra được nêu tại trang 41 của khóa luận, Bệnh viện Đa khoa Định Hóa dành nguồn kinh phí là 75.000 đồng/năm cho việc xử lý chất thải y tế và chất thải y tế nguy hại.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lộc Anh Tú đã phản ánh một cách chi tiết, có hệ thống thực trạng công tác quản lý chất thải y tế nguy hại tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên năm 2017. Nghiên cứu chỉ rõ sự tương phản giữa năng lực tự xử lý tương đối hoàn chỉnh bằng lò đốt F-1K tại bệnh viện tuyến huyện và nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng từ việc đốt hố, chôn lấp thủ công tại 23 trạm y tế tuyến xã. Các phát hiện định lượng và định hướng thiết lập mạng lưới thu gom tập trung trong văn bản là nguồn dữ liệu thực chứng hữu ích, hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý môi trường y tế địa phương.