Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình đô thị hóa và gia tăng dân số nhanh chóng tại Việt Nam nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng đã tạo ra áp lực lớn đối với hạ tầng xử lý môi trường, đặc biệt là sự gia tăng khối lượng chất thải y tế phát sinh từ hệ thống các cơ sở khám chữa bệnh. Hải Phòng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế lớn với mạng lưới chăm sóc sức khỏe phục vụ người dân thành phố và các vùng lân cận. Tuy nhiên, sự gia tăng số lượng bệnh nhân cùng sự xuống cấp của cơ sở hạ tầng đã làm cho công tác quản lý chất thải y tế, nhất là chất thải y tế nguy hại, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm đất, nước, không khí và lây truyền dịch bệnh.
Trước thực tế đó, tác giả Bùi Quang Huy đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Môi trường tại Trường Đại học Dân lập Hải Phòng (năm 2019) với đề tài: "Khảo sát và đánh giá hiện trạng quản lý chất thải y tế tại một số bệnh viện ở Hải Phòng".
Khóa luận xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số trong nhiệm vụ đề tài:
- Về nội dung và yêu cầu giải quyết:
- Tìm hiểu về chất thải y tế và thực hiện khảo sát, đánh giá hiện trạng quản lý chất thải y tế tại một số bệnh viện ở Hải Phòng.
- Nghiên cứu tài liệu, tìm hiểu sâu quy trình quản lý chất thải y tế tại 3 bệnh viện đại diện.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế.
- Các số liệu cần thiết để thiết kế, tính toán:
- Thu thập tài liệu, số liệu thống kê phát thải và năng lực quản lý.
- Tìm hiểu chi tiết quy trình phát thải chất thải y tế từ các khâu phát sinh, phân loại, thu gom, vận chuyển đến xử lý cuối cùng.
- Địa điểm thực tập và điều tra thực tế: Khu liên hợp xử lý chất thải Tràng Cát (thuộc Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hải Phòng).
Đối tượng nghiên cứu là dòng phát thải chất thải rắn y tế (bao gồm chất thải y tế thông thường và chất thải y tế nguy hại) cùng quy trình quản lý dòng chất thải này. Phạm vi không gian của đề tài tập trung khảo sát tại 3 bệnh viện lớn trên địa bàn thành phố Hải Phòng: Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng và Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng (Bệnh viện Nhi), kết hợp khảo sát trạm xử lý chất thải Tràng Cát. Phạm vi thời gian thu thập dữ liệu và số liệu thực tế được thực hiện trong năm 2017 và giai đoạn làm đề tài từ tháng 10/2018 đến tháng 01/2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên các căn cứ lý luận, khái niệm chuyên ngành môi trường và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước:
- Hệ thống văn bản pháp lý và quy chuẩn:
- Quy chế Quản lý chất thải y tế do Bộ Y tế ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2015.
- Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại.
- Quyết định số 105/QĐ-VX ngày 31 tháng 01 năm 1978 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Các Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và tài liệu hướng dẫn kỹ thuật của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về đánh giá các đồng phân độc hại và Dioxin.
- Khung phân loại và chỉ tiêu kỹ thuật:
- Định nghĩa và tiêu chí phân loại chất thải rắn y tế thành chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại (dược phẩm quá hạn, hóa chất, chất gây độc tế bào, kim loại nặng như thủy ngân), chất thải phóng xạ, bình áp suất và chất thải thông thường.
- Quy định mã màu phân loại chất thải: túi/thùng màu vàng (lây nhiễm), màu đen (hóa học nguy hại, phóng xạ), màu xanh (thông thường), màu trắng (tái chế).
Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng trên thực tế bao gồm:
- Phương pháp thu thập và tổng quan tài liệu: Tập hợp số liệu thống kê y tế của Bộ Y tế, Sở Y tế Hải Phòng và báo cáo định kỳ của Công ty Môi trường Đô thị Hải Phòng.
- Phương pháp khảo sát, điều tra thực địa: Trực tiếp khảo sát hiện trường tại các khoa, phòng, khu vực lưu giữ rác thải của 3 bệnh viện và quy trình vận hành tại Khu liên hợp xử lý chất thải Tràng Cát; phỏng vấn cán bộ nhân viên y tế và công nhân vệ sinh.
- Phương pháp thống kê, phân tích và so sánh: Tổng hợp số liệu phát thải theo tháng, tính toán hệ số phát thải trung bình theo giường bệnh (kg/giường bệnh/ngày) và tỷ lệ CBNV được đào tạo tập huấn.
Nguồn dữ liệu chính phục vụ nghiên cứu do Công ty Môi trường Đô thị Hải Phòng, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng và Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng cung cấp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương này trình bày cơ sở lý luận về chất thải y tế, phân tích nguồn gốc phát sinh từ các bộ phận chức năng trong cơ sở y tế (phòng khám, phòng mổ, buồng tiêm, xét nghiệm, dược phẩm, hành chính), đồng thời hệ thống hóa tính chất lý - hóa - sinh và ảnh hưởng của chất thải y tế đến các thành phần môi trường.
Tác giả cung cấp các thông số vật lý và thành phần điển hình của chất thải y tế:
| Thông số vật lý |
Giá trị / Đặc tính |
| Tỷ lệ dễ cháy |
83 - 99% |
| Nhiệt trị chất thải khô |
573 kcal/kg |
| Nhiệt trị chất thải ướt |
90 kcal/kg |
| Tỷ lệ độ ẩm |
0% (túi nilon) đến 90% (chất thải phẫu thuật) |
| Mật độ vật lý chất thải |
0,11 kg/lít |
| Hàm lượng Clo (Cl) |
0,42% |
| Hàm lượng Thủy ngân (Hg) |
2,41 mg/kg |
| Hàm lượng Cadimi (Cd) |
1,53 mg/kg |
| Hàm lượng Chì (Pb) |
28,84 mg/kg |
| Khối lượng riêng trung bình |
0,44 kg |
Về thành phần hóa học, chất thải y tế chứa khoảng 50% Cacbon, 20% Oxy, 6% Hydro cùng các nguyên tố N, S, P, Cl. Chương 1 cũng tổng quan thực trạng quản lý chất thải y tế tại Việt Nam với số liệu từ Bộ Y tế: cả nước có 13.511 cơ sở y tế; tổng lượng chất thải rắn phát sinh khoảng 450 tấn/ngày (trong đó chất thải nguy hại chiếm 47 tấn/ngày); tổng lượng nước thải y tế phát sinh khoảng 125.000 m³/ngày. Toàn quốc có 369 lò đốt hai buồng và 127 lò đốt một buồng, tuy nhiên tỷ lệ bệnh viện có hệ thống phân loại và thu gom đạt chuẩn chỉ đạt khoảng 50%.
Chương 2: Hiện trạng quản lý chất thải y tế của một số bệnh viện tại Hải Phòng
Chương này tập trung phản ánh thực trạng hệ thống y tế thành phố Hải Phòng (gồm 9 bệnh viện lớn, 17 trung tâm y tế, hơn 50 phòng khám, hơn 216 trạm xá với khoảng 5.470 giường bệnh) và đi sâu phân tích 3 cơ sở nghiên cứu trọng điểm:
- Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp: Bệnh viện đa khoa tuyến cuối của thành phố (tuyến 4), quy mô trên 1.400 giường bệnh theo kế hoạch, điều trị nội trú 950 - 1.000 bệnh nhân/ngày, khám ngoại trú 600 - 700 người/ngày.
- Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng: Bệnh viện chuyên khoa hạng I tuyến thành phố, quy mô 450 giường bệnh, 609 cán bộ viên chức; trung bình hàng năm khám 86.829 ca, điều trị nội trú 30.093 ca.
- Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng: Bệnh viện chuyên khoa nhi tuyến cuối (tuyến 4), quy mô 330 giường bệnh kế hoạch, điều trị nội trú 350 - 400 bệnh nhân/ngày, khám ngoại trú 120 - 150 lượt/ngày.
Khóa luận tổng hợp khối lượng chất thải rắn y tế thông thường và chất thải y tế nguy hại phát sinh tại 3 bệnh viện trong năm 2017:
| Chỉ tiêu khảo sát |
Bệnh viện Việt Tiệp |
Bệnh viện Phụ sản |
Bệnh viện Trẻ em |
| Số người phụ trách QLCTYT |
10 người |
4 người |
4 người |
| Tỷ lệ CBNV được tập huấn QLCTYT |
60% |
50% |
45% |
| CTYT thông thường trung bình |
1.818 kg/ngày |
1.576 kg/ngày |
1.387 kg/ngày |
| Chỉ số phát thải CTYT thông thường |
1,704 kg/GB/ngày |
1,504 kg/GB/ngày |
1,182 kg/GB/ngày |
| Tổng lượng CTYT nguy hại cả năm 2017 |
41.188,4 kg |
16.718,1 kg |
11.549,6 kg |
| Tổng CTYT thu gom bởi Công ty MTĐT |
63.042 kg/năm |
35.635 kg/năm |
15.350 kg/năm |
| Tỷ lệ chất thải được tái chế |
12,8% |
13,9% |
11,6% |
Kết quả khảo sát chi tiết các công đoạn quản lý cho thấy:
- Phân loại và dụng cụ chứa: Cả 3 bệnh viện đã bố trí thùng/túi phân loại (màu vàng cho rác nguy hại, màu xanh cho rác sinh hoạt). Tuy nhiên, 100% túi đựng sử dụng loại túi thông thường mua ngoài thị trường, không có vạch giới hạn 3/4, không có dòng chữ cảnh báo "Không được đựng quá vạch này" và thiếu biểu tượng nguy hại sinh học/phóng xạ. Việc phân loại chưa triệt để, còn để lẫn vật sắc nhọn và chất thải tái chế vào rác sinh hoạt.
- Vận chuyển và lưu giữ nội bộ: Tần suất vận chuyển nội bộ 1 - 2 lần/ngày bằng xe đẩy tay hoặc thùng nhựa có bánh xe. Bệnh viện Việt Tiệp có nhà lưu giữ đạt chuẩn; Bệnh viện Phụ sản có kho chất thải nguy hại nhưng thiếu kho rác sinh hoạt và thiếu vòi nước rửa tay, hóa chất sát khuẩn; Bệnh viện Trẻ em nơi lưu giữ đã xuống cấp và chưa đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh.
- Xử lý ban đầu: Hầu hết chất thải lây nhiễm cao không được khử khuẩn tại nguồn; một số ít trường hợp ngâm khử khuẩn bằng hóa chất Cloramin B (1 - 2%) hoặc Javen (1 - 2%) trong 30 phút hoặc hấp ướt ở 121°C trong 20 phút.
- Thu gom, vận chuyển và xử lý ngoại viện: Công ty Môi trường Đô thị Hải Phòng thực hiện thu gom 4 lần/tuần (thứ 2, 4, 5, 7) bằng 01 xe tải chuyên dụng Hyundai 3,5 tấn, vận chuyển về Khu liên hợp xử lý chất thải Tràng Cát. Tại đây, chất thải được xử lý chủ yếu bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh trong hố sâu 2m (thể tích 10 m³), đáy lót đất núi dày 10cm và 10 m² vải nilon chống thấm; xử lý vi sinh bằng dung dịch TOGAGEL (chứa vi khuẩn quang hợp, xạ khuẩn, nấm men với định mức 1 kg/m³) kết hợp 30 kg vôi bột/m³ chất thải. Công ty cũng sở hữu 01 lò đốt Hoval - MZ4 công suất 400 - 500 kg/ngày.
- Tồn tại pháp lý: Công ty Môi trường Đô thị Hải Phòng sử dụng phiếu khai nhận thu gom nội bộ, chưa áp dụng đúng mẫu chứng từ quản lý chất thải nguy hại và chưa hoàn tất thủ tục đăng ký cấp phép hành nghề vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại theo Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT.
Chương 3: Các giải pháp đề xuất quản lý chất thải rắn y tế tại 3 bệnh viện Việt Tiệp, Phụ Sản, Trẻ Em
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp tổ chức, kỹ thuật và quản lý nhằm khắc phục các hạn chế đã chỉ ra:
- Phân định trách nhiệm các bên liên quan:
- Cơ sở y tế: Chịu trách nhiệm toàn diện từ phát sinh đến tiêu hủy; đầu tư cơ sở hạ tầng, mua sắm túi/thùng chứa đạt chuẩn; ban hành quy trình giám sát nội bộ.
- Đơn vị thu gom xử lý (Công ty Môi trường Đô thị): Khẩn trương lập hồ sơ đăng ký cấp phép hành nghề theo Thông tư 12/2006/TT-BTNMT; chuẩn hóa quy trình tiếp nhận bằng chứng từ quản lý chất thải nguy hại.
- Sở Y tế và Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng: Tăng cường phối hợp kiểm tra liên ngành định kỳ 6 tháng/lần; thẩm định và hướng dẫn các tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường.
- Giải pháp kỹ thuật và quản lý nội bộ bệnh viện:
- Chuẩn hóa 100% dụng cụ chứa chất thải y tế (túi nilon PE/PP dày tối thiểu 0,1mm, có vạch kẻ 3/4, có nhãn biểu tượng cảnh báo theo mã màu quy định).
- Tăng cường kiểm tra, dán nhãn nhận diện nguồn gốc khoa/phòng trên từng túi rác để gắn trách nhiệm; áp dụng chế độ khen thưởng và kỷ luật nghiêm minh.
- Nâng cấp, cải tạo khu lưu giữ chất thải đạt khoảng cách an toàn tối thiểu 10m so với buồng bệnh và nhà ăn; bổ sung trang thiết bị vệ sinh, bồn rửa tay và hệ thống bảo quản lạnh.
- Kiểm soát chặt chẽ hoạt động thu hồi, tái chế phế liệu y tế (nhựa, thủy tinh); bắt buộc thực hiện quy trình khử khuẩn trước khi đưa đi tái chế.
- Giải pháp nâng cao nhận thức và đào tạo:
- Tổ chức tập huấn bắt buộc và định kỳ cho toàn bộ cán bộ y tế, đặc biệt là đội ngũ hộ lý và công nhân vệ sinh về kỹ năng thu gom, phân loại và phòng tránh rủi ro tai nạn nghề nghiệp (vết thương do kim tiêm).
- Trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động cá nhân (găng tay dày, khẩu trang, tạp dề, ủng bảo hộ).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã phản ánh bức tranh thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Hải Phòng qua các kết quả cụ thể:
- Hệ thống hóa số liệu phát thải thực tế: Xác định tổng lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh trong năm 2017 tại 3 bệnh viện trọng điểm là 69.456,1 kg (Việt Tiệp: 41.188,4 kg; Phụ sản: 16.718,1 kg; Trẻ em: 11.549,6 kg) và tổng lượng chất thải y tế được Công ty Môi trường Đô thị thu gom là 113.712 kg/năm.
- Đánh giá định lượng công tác tập huấn và tỷ lệ tái chế: Chỉ ra tỷ lệ cán bộ nhân viên được tập huấn quản lý chất thải y tế tại 3 bệnh viện còn ở mức thấp (Việt Tiệp: 60%, Phụ sản: 50%, Trẻ em: 45%); tỷ lệ chất thải y tế được thu gom tái chế dao động từ 11,6% đến 13,9%.
- Chỉ ra các điểm nghẽn kỹ thuật và pháp lý: Phát hiện việc sử dụng sai quy cách túi chứa rác (100% túi thiếu vạch mức và biểu tượng cảnh báo), tình trạng để lẫn chất thải sắc nhọn, sự thiếu đồng bộ của kho lưu giữ tại Bệnh viện Phụ sản và Bệnh viện Trẻ em, cùng sự thiếu hụt giấy phép hành nghề quản lý chất thải nguy hại của đơn vị thu gom theo Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT.
- Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi: Đưa ra khung giải pháp đồng bộ từ cấp quản lý nhà nước (Sở Y tế, Sở Tài nguyên và Môi trường), đơn vị vận hành xử lý (Công ty Môi trường Đô thị) đến từng cơ sở y tế.
So với các nghiên cứu lý thuyết chung, đóng góp của đề tài là cung cấp nguồn dữ liệu điều tra thực địa chi tiết theo từng tháng trong năm 2017, phản ánh quy luật phát thải tăng dần vào các tháng mùa đông (tháng 11 đến tháng 1) do yếu tố thời tiết và bệnh lý đường hô hấp tại miền Bắc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn dựa trên phạm vi và điều kiện thực hiện:
- Phạm vi khảo sát thực tế mới chỉ thực hiện tại 3 bệnh viện tuyến thành phố (Việt Tiệp, Phụ sản, Trẻ em), chưa bao quát toàn bộ 9 bệnh viện cùng hệ thống trung tâm y tế, phòng khám tư nhân và trạm y tế xã/phường trên địa bàn Hải Phòng.
- Đề tài tập trung chủ yếu vào chất thải rắn y tế; nội dung về nước thải y tế và khí thải lò đốt chỉ dừng lại ở mức độ thống kê tổng quan sơ bộ mà chưa có các phân tích mẫu phòng thí nghiệm chuyên sâu.
- Hướng mở tiếp theo của nghiên cứu là mở rộng điều tra toàn diện mạng lưới y tế cơ sở và y tế tư nhân, thực hiện lấy mẫu phân tích đánh giá chất lượng nước rỉ rác và khí thải tại Khu liên hợp xử lý chất thải Tràng Cát.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị ứng dụng thực tiễn cho các đối tượng sau:
- Sinh viên và học viên ngành Môi trường, Quản lý Môi trường, Y tế Công cộng: Tham khảo khung phương pháp khảo sát thực địa, biểu mẫu thống kê phát thải và quy trình đánh giá hệ thống quản lý chất thải rắn y tế.
- Ban Giám đốc và Tổ Quản lý chất thải tại các bệnh viện: Sử dụng các số liệu đánh giá để rà soát quy trình phân loại tại nguồn, cải tạo hệ thống nhà lưu giữ chất thải và xây dựng chương trình tập huấn an toàn lao động cho nhân viên vệ sinh.
- Cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp môi trường: Tham khảo số liệu định mức tiêu hao hóa chất xử lý vi sinh (TOGAGEL, vôi bột), quy cách hố chôn lấp và các yêu cầu hoàn thiện thủ tục pháp lý về quản lý chất thải nguy hại tại địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận khảo sát thực tế tại những cơ sở y tế nào và cơ quan xử lý chất thải nào ở Hải Phòng?
Khóa luận thực hiện khảo sát tại 3 bệnh viện lớn: Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng (Bệnh viện Nhi), kết hợp khảo sát quy trình thu gom, xử lý tại Khu liên hợp xử lý chất thải Tràng Cát thuộc Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hải Phòng.
2. Khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh trong năm 2017 tại 3 bệnh viện được điều tra là bao nhiêu?
Theo bảng số liệu 2.6 trong khóa luận, tổng khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh cả năm 2017 tại 3 bệnh viện là 69.456,1 kg. Trong đó, Bệnh viện Việt Tiệp phát sinh 41.188,4 kg; Bệnh viện Phụ sản phát sinh 16.718,1 kg; Bệnh viện Trẻ em phát sinh 11.549,6 kg.
3. Tỷ lệ cán bộ nhân viên được tập huấn về quản lý chất thải y tế tại 3 bệnh viện đạt mức nào?
Số liệu tại Bảng 2.2 cho thấy tỷ lệ cán bộ nhân viên được tập huấn quản lý chất thải y tế còn chưa đồng đều và ở mức thấp: Bệnh viện Việt Tiệp đạt 60% (với 10 người phụ trách), Bệnh viện Phụ sản đạt 50% (4 người phụ trách) và Bệnh viện Trẻ em đạt 45% (4 người phụ trách).
4. Quy trình chôn lấp chất thải y tế nguy hại tại bãi rác Tràng Cát sử dụng những thông số kỹ thuật và hóa chất nào?
Chất thải y tế nguy hại được chôn lấp trong hố sâu 2m, thể tích 10 m³, nền đáy lót 10cm đất núi và 10 m² vải nilon chống thấm. Định mức xử lý bao gồm dung dịch vi sinh TOGAGEL (1 kg/m³ chất thải) và vôi bột (30 kg/m³ chất thải). Mỗi lớp đổ chất thải dày khoảng 0,5 m³ được phủ một lớp đất 10 - 15 cm và khi cách miệng hố 0,5m sẽ phủ lớp đất hoàn thiện bề mặt.
5. Điểm bất cập lớn nhất về mặt pháp lý của đơn vị thu gom, vận chuyển chất thải y tế được tác giả chỉ ra là gì?
Công ty Môi trường Đô thị Hải Phòng chỉ sử dụng phiếu khai nhận thu gom nội bộ mà chưa sử dụng đúng mẫu chứng từ quản lý chất thải nguy hại, đồng thời chưa đăng ký và chưa được cấp giấy phép hành nghề thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại theo quy định tại Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Bùi Quang Huy đã phản ánh chi tiết thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại 3 bệnh viện lớn ở Hải Phòng và quy trình xử lý tại bãi rác Tràng Cát trong năm 2017. Công trình chỉ rõ các tồn tại về công tác phân loại tại nguồn, bao bì chứa đựng, tỷ lệ tập huấn nhân viên và điều kiện pháp lý của đơn vị thu gom. Các nhóm giải pháp do tác giả đề xuất bám sát thực tiễn địa phương và hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành, cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác quản trị môi trường y tế đô thị.