LỜI MỞ ĐẦU Ngày nay, trên thế giới công tác bảo vệ môi trƣờng sống đƣợc đặt ra nhƣ một vấn đề sống còn của loài ngƣời. Riêng về lĩnh vực quản lý chất thải đã thu hút đƣợc sự chú ý của tất cả các nƣớc. Hàng trăm công trình nghiên cứu về các tiêu chuẩn thải ra chất thải, tổ chức thu gom và vận chuyển chất thải đã ra đời. Các nƣớc phát triển đã thiết lập những bộ luật mới về quản lý chất thải rất nghiêm ngặt.
Là một nƣớc nằm ở khu vực châu Á, Việt Nam đã đƣợc chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của các nƣớc láng giềng và trong khu vực suốt thời gian qua. Đồng thời cũng thấy đƣợc những bài học to lớn về môi trƣờng mà những nƣớc đi trƣớc. Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa tại các thành phố và các khu đô thị Việt Nam đã gia tăng mạnh mẽ và đang có xu hƣớng tiếp tục tăng mạnh mẽ trong những năm tới. Tại các đô thị của Việt Nam nhƣ Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…vấn đề ô nhiễm môi trƣờng đang trở nên trầm trọng.
Cùng với sự phát triển của công nghiệp hóa và đô thị hóa, nhiều loại chất thải khác nhau phát sinh từ các hoạt động của con ngƣời có xu hƣớng tăng lên về số lƣợng bao gồm: chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng và nguy hiểm hơn cả là chất thải y tế. Theo báo cáo của Bộ Y tế, tính đến tháng 10 năm 2007, cả nƣớc có 1087 bệnh viện, trong đó có 1023 bệnh viện công, 64 bệnh viện tƣ với tổng số 140.000 giƣờng bệnh. Bên cạnh đó, có 14 Viện thuộc hệ dự phòng, 189 trung tâm y tế dự phòng tuyến tỉnh, 680 trung tâm y tế huyện, 100 cơ sở nghiên cứu đào tạo y dƣợc và 181 công ty, xí nghiệp sản xuất thuốc, 10.999 trạm y tế xã, phƣờng. Tổng lƣợng chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế năm 2005 vào khoảng 300 tấn/ngày, trong đó có 40 tấn/ngày là chất thải y tế nguy hại [7].
Hiện nay chỉ có 1/3 lƣợng rác thải y tế ở Việt Nam đƣợc đốt bằng lò đốt hiện đại với hai trung tâm xử lý chất thải y tế quy mô đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Hà Nội, lƣợng rác còn lại đƣợc đem đi chôn lấp. Tuy nhiên thì việc xử lý rác thải hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, cụ thể là một số bệnh viện 1 vẫn còn tình trạng mang rác thải y tế nhƣ dây truyền dịch, bơm kim tiêm…vẫn còn dính máu bán cho một số cơ sở tái chế sai quy định. Đây là hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, là con đƣờng phát tán vi khuẩn, làm lây lan dịch bệnh trong cộng đồng. Để đánh giá thực trạng về CTYT cũng nhƣ những ảnh hƣởng của CTYT đối với môi trƣờng, nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan đã tiến hành điều tra, nghiên cứu.
Các nghiên cứu đã phần nào cho thấy những tồn tại trong công tác quản lý CTYT ở nƣớc ta [15], [10], [16]. Hiện nay, vì nhiều lý do, trong đó có áp lực về nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, sự quá tải của nhiều bệnh viện, sự thiếu đồng bộ cơ sở hạ tầng của bệnh viện nên dẫn tới vệ sinh môi trƣờng của nhiều bệnh viện chƣa đƣợc đảm bảo [4]. Thành phố Hải Phòng là một trong những thành phố có tốc độ phát triển kinh tế và mật độ dân số cao, là trung tâm văn hóa giáo dục, y tế lớn của cả nƣớc. Ngành y tế thành phố phát triển mạnh mẽ, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho ngƣời dân trên địa bàn thành phố và dân cƣ các địa phƣơng khác.
Thành phố có gần 30 bệnh viện hạng I, II, III và phòng khám. Hàng ngày một lƣợng rác thải khá lớn từ các hoạt động y tế đƣợc thải ra khoảng 2,5 – 3 tấn/ngày [11]. Với nhận thức nhƣ vậy, trong khóa luận tốt nghiệp này tôi đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý” nhằm đánh giá thực trạng về công tác quản lý chất thải y tế đồng thời đƣa ra một số phƣơng án giải quyết có tính khả thi và nêu một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải tại bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp. 2 Mục tiêu đề tài - Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng qua các kết quả kiểm tra về kiến thức, thực hành công tác phân loại, thu gom, vận chuyển chất thải.
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải rắn y tế. Phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng pháp thu thập thông tin tài liệu: kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có sẵn, thu thập phân tích qua các báo cáo. Phƣơng pháp khảo sát thực tế: khảo sát, thu thập số liệu tại bệnh viện. 3 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ 1.
Một số khái niệm. Từ năm 1999 Bộ Y tế đã ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế số 2575/1999/QĐ-BYT, đến năm 2007 quy chế này đã đƣợc điều chỉnh để phù hợp với tình hình cấp bách hiện nay về quản lý CTYT: Quyết định số 43/2007/QĐ- BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế về Quy chế quản lý chất thải y tế [5]. Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí đƣợc thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thƣờng. Chất thải y tế nguy hại là chất thải chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con ngƣời và môi trƣờng nhƣ dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không đƣợc tiêu hủy an toàn.
Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lƣu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Thực trạng quản lý chất thải y tế trên thế giới. Nghiên cứu về CTYT đã đƣợc tiến hành tại nhiều nƣớc trên thế giới, đặc biệt ở các nƣớc đang phát triển nhƣ Anh, Mỹ, Nhật, Canada…Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực nhƣ tình hình phát sinh, phân loại CTYT, quản lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải…), tác hại của CTYT đối với môi trƣờng, sức khỏe, biện pháp làm giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng, ảnh hƣởng của nƣớc thải y tế đối với việc lan truyền dịch bệnh, những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT, tổn thƣơng lây nhiễm ở y tá, hộ lý và ngƣời thu gom rác, nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với ngƣời thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng, ngƣời phơi nhiễm với HIV, HBV, HVC ở nhân viên y tế [18], [19], [21], [22]. Thực trạng phát sinh chất thải y tế.
Khối lƣợng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan nhƣ: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phƣơng pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân và rác thải của bệnh nhân ở các khoa phòng [13]. Chất thải y tế theo giƣờng bệnh trên thế giới [9] Tuyến bệnh viện Tổng lƣợng CTYT (kg/ CTYT nguy hại GB) (kg/GB) Bệnh viện trung ƣơng 4,1 – 8,7 0,4 – 1,6 Bệnh viện tỉnh 2,1 – 4,2 0,2 – 1,1 Bệnh viện huyện 0,5 – 1,8 0,1 – 0,4 1. Phân loại chất thải y tế. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (1992), ở các nƣớc đang phát triển có thể phân loại CTYT thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại, chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm), chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn), chất thải hóa học và dƣợc phẩm (không kể các loại thuốc độc với tế bào), chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao) [3], [23].
Ở Mỹ phân loại chất thải y tế thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải có khả năng truyền nhiễm mạnh), những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế phẩm sinh học liên quan, những vật sắc nhọn đƣợc dùng trong điều trị, nghiên cứu…máu và các sản phẩm của máu, chất thải động vật (xác động vật, các phần của cơ thể…), các vật sắc nhọn không sử dụng, các chất thải gây độc tế bào, chất thải phóng xạ [23]. Quản lý chất thải y tế. Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 18 - 64% cơ sở y tế chƣa có biện pháp xử lý chất thải đúng cách. Tại các cơ sở y tế 12,5% công nhân xử lý chất thải bị tổn thƣơng do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT.
Tổn thƣơng này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu hủy vật sắc nhọn. Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy [24].Ô-ga-oa, cố vấn Tổ chức Y tế thế giới về sức khỏe, môi trƣờng khu vực Châu Á, phần lớn các nƣớc đạng phát triển không kiểm soát tốt CTYT, chƣa có khả năng phân loại CTYT mà xử lý cùng với tất cả các loại chất thải. Từ những năm 90, nhiều quốc gia nhƣ Nhật Bản, Singapo, Australia, Newziland đã đi đầu trong công tác xử lý CTYT, Malaixia có phƣơng tiện xử lý rác thải tập trung trên bán đảo và các hệ thống xử lý rác thải riêng biệt cho các bệnh viện ở xa tại Boocneo [24]. Ở các nƣớc phát triển đã có công nghệ xử lý CTYT đáng tin cậy nhƣ đốt rác bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu đƣợc áp dụng ở các nƣớc đang phát triển.