CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở pháp lý liên quan tới quản lý, xử lý chất thải y tế tại Việt Nam Công tác quản lý chất thải y tế đã được Quốc hội, Chính phủ quan tâm chỉ đạo và Bộ Y tế đã phối hợp cùng các Bộ ngành có liên quan tổ chức thực hiện từ nhiều năm nay. Nhiều văn bản qui phạm pháp luật đã được ban hành nhằm triển khai công tác quản lý chất thải y tế [11], [7]. Một số các văn bản pháp luật gồm: Các văn bản chung về bảo vệ môi trường Điều 39, Luật Bảo vệ Môi trường do Quốc hội ban hành ngày 29/11/2005 quy định rõ, bệnh viện và các cơ sở y tế phải bố trí thiết bị chuyên dụng để phân loại bệnh phẩm, rác thải y tế tại nguồn; có biện pháp xử lý, tiêu huỷ bệnh phẩm, rác thải y tế, thuốc hết hạn sử dụng bảo đảm vệ sinh, tiêu chuẩn môi trường; có kế hoạch, trang thiết bị phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường do CTYT gây ra… Các văn bản liên quan đến quản lý chất thải y tế - Quyết định 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về quản lý CTNH nhằm ngăn ngừa và giảm tối đa việc phát sinh các tác động nguy hại đối với môi trường và sức khỏe con người.
- Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 của BTNMT về ban hành danh mục CTNH: chất thải từ ngành y tế (trừ chất thải sinh hoạt từ ngành này) được chỉ ra là một trong những nhóm nguồn hoặc dòng thải nguy hại. - Thông tư 12/2006/TT-BTNMT ngày 26/12/2006 của BTNMT về “Hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý CTNH”. - Quyết định 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của BYT về Quy chế quản lý chất thải y tế: quy định chi tiết việc phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý CTR cũng như các quy định liên quan đến việc thu gom, xử lý và yêu cầu của hệ thống xử lý nước thải bệnh viện [24]. Một số điểm đã được bổ sung, sửa đổi trong Quy chế (so với Quy chế quản lý chất thải y tế ban hành năm 1999): Xác định và phân loại chất thải; Công nghệ xử lý chất thải phải bảo đảm các tiêu chuẩn môi trường; khuyến khích áp dụng các công nghệ thân thiện với môi trường; công nghệ khử 5 khuẩn bằng nhiệt ướt và công nghệ vi sóng được bổ sung trong lựa chọn công nghệ cho xử lý chất thải y tế lây nhiễm; chất thải y tế lây nhiễm đã được diệt khuẩn an toàn thì sau đó có thể tái chế hoặc xử lý như chất thải thông thường; quy định trách nhiệm của chủ cơ sở y tế trong việc quản lý và xử lý chất thải y tế.
- Công văn số 7164/BYT-KCB ngày 20/10/2008 của Bộ trưởng BYT chỉ đạo tăng cường triển khai thực hiện quản lý và xử lý chất thải y tế, nhấn mạnh việc chỉ tận dụng các lò đốt chất thải y tế đã có nhưng phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về môi trường khi vận hành; đồng thời đề nghị áp dụng các công nghệ xử lý thân thiện với môi trường như công nghệ khử khuẩn bằng vi sóng, hấp khử khuẩn. Yêu cầu các địa phương lồng ghép việc thực hiện đầu tư, xây dựng và vận hành các công trình xử lý chất thải khi triển khai thực hiện Đề án 47 về xây dựng, cải tạo, nâng cấp bệnh viện tuyến huyện. - Thông tư 18/2009/TT-BYT ngày 14/10/2009 của BYT “Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh”: Trang bị đầy đủ phương tiện vệ sinh môi trường thích hợp và chuyên dụng, tổ chức thực hiện việc quản lý chất thải y tế theo đúng quy định, có cơ sở hạ tầng đảm bảo xử lý an toàn chất thải rắn theo quy định về quản lý chất thải y tế. - Quyết định 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến 2050: Phân công BYT chịu trách nhiệm tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các cơ sở y tế thực hiện nghiêm túc các quy định về quản lý chất thải y tế trên toàn quốc.
- Quyết định 4448/QĐ-BYT ngày 18/11/2010 của Bộ Y tế về việc cho phép công bố nội dung Dự thảo báo cáo quản lý các nguy cơ môi trường của Dự án hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện nguồn vốn vay Ngân hàng thế giới, ban hành kèm theo bản Dự thảo báo cáo, trong đó có đề cập đến các nguy cơ môi trường chất thải y tế và hướng dẫn lựa chọn công nghệ xử lý chất thải rắn y tế. - Quyết định số 2038/2011/QĐ - TTg ngày 15/11/2011 về việc phê duyệt Đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020: 100% các cơ sở y tế tuyến Trung ương và tuyến tỉnh, 70% các cơ sở y tế tuyến 6 huyện và 100% các cơ sở y tế tư nhân thực hiện xử lý chất thải rắn bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. - Quyết định số 170/2012/QĐ - TTg ngày 8/2/2012 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý CTRYT nguy hại đến năm 2025: 100% lượng CTRYT nguy hại tại các cơ sở y tế được thu gom, phân loại và vận chuyển đến các cơ sở xử lý, trong đó 70% lượng CTRYT nguy hại được xử lý đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường. Các văn bản về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật - Liên quan đến lò đốt CTRYT: QCVN 02:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt CTRYT; TCVN 7380:2004: Lò đốt CTRYT – Yêu cầu kỹ thuật; TCVN 7391:2004: Lò đốt CTRYT – Phương pháp đánh giá thẩm định; TCXDVN 365:2007: Hướng dẫn thiết kế Bệnh viện đa khoa – Tiêu chuẩn thiết kế.
- Liên quan đến CTNH: TCVN 6706:2000: CTNH – Phân loại; TCVN 6707:2000: CTNH – Dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa; TCXDVN 320:2004: Bãi chôn lấp CTNH – Tiêu chuẩn thiết kế. Một số vấn đề cơ bản về chất thải rắn y tế 1. Các khái niệm Chất thải y tế Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã định nghĩa chất thải y tế bao gồm tất cả chất thải phát sinh do các cơ sở y tế, cơ sở nghiên cứu, phòng thí nghiệm. Ngoài ra, chất thải y tế còn bao gồm các chất thải có nguồn gốc từ các “nguồn nhỏ” hoặc “phân tán” như được phát sinh trong quá trình chăm sóc sức khỏe được thực hiện trong nhà như lọc máu, tiêm insulin.
Theo Quy chế quản lý chất thải y tế, chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường [5]. Chất thải rắn y tế Đối với chất thải rắn y tế, WHO đã định nghĩa là “bất kỳ loại chất thải rắn được phát sinh ra từ quá trình chẩn đoán, điều trị hoặc tiêm chủng của con người hoặc động vật, trong nghiên cứu liên quan, hoặc thử nghiệm của sinh học, bao gồm 7 nhưng không giới hạn: băng bẩn hoặc thấm máu, các đĩa cấy vi khuẩn và thủy tinh khác” [24]. Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn [5]. Quản lý chất thải y tế Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện [5].
Giảm thiểu chất thải y tế Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải chất thải y tế, bao gồm giảm lượng chất thải y tế tại nguồn, sử dụng các sản phẩm có thể tái chế, tái sử dụng, quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hành và phân loại chất thải chính xác. Tái sử dụng là việc sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết tuổi thọ sản phẩm hoặc sử dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đích mới [5]. Tái chế là việc tái sản xuất các vật liệu thải bỏ thành những sản phẩm mới [5]. Thu gom chất thải tại nơi phát sinh Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế [5].
Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tới nơi xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hủy [5]. Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy [5]. Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất khả năng gây huy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường [5]. Phân loại chất thải rắn y tế Theo quy chế quản lý CTYT được Bộ Y tế quy định tại Quyết định 43/2007/QĐ-BYT ban hành ngày 30/11/2007, chất thải trong các cơ sở y tế được chia thành 5 loại: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải phóng xạ, bình chứa áp suất và chất thải thông thường.
Chất thải lây nhiễm - Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế. - Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly. - Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm. - Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm [5].
Chất thải hóa học nguy hại - Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.