CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Khái niệm, thuật ngữ Bác sĩ là người chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh tật, thương tích, suy yếu về thể chất, tinh thần khác và duy trì sức khỏe nói chung ở con người thông qua việc áp dụng các nguyên lý, phương pháp chữa bệnh của y học hiện đại; lập kế hoạch, giám sát và đánh giá việc thực hiện kế hoạch chăm sóc và điều trị bởi các chuyên gia cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác [21]. Ngoài ra, khái niệm “bác sĩ” được hiểu ở từng ngữ cảnh khác nhau. “Bác sĩ” là một văn bằng hay một chương trình đào tạo trong các trường y khoa, tương đương các thuật ngữ “medical doctor (MD)” của Mỹ, Nhật Bản, Philippines và một số nước khác; MBBS của các nước Anh, Úc, Ấn Độ… “Bác sĩ” trong ngữ cảnh chỉ một nghề chuyên môn chỉ một người đã hoàn thành chương trình đào tạo đại học ngành y, được phép hành nghề khám, chữa bệnh, tương đương với các từ “doctor” hay “physician”. “Bác sĩ đa khoa” tương đương với “general practitioner”, là một bác sĩ điều trị các bệnh mạn và cấp tính, đưa ra các biện pháp phòng bệnh, hướng dẫn phục hồi sức khỏe và kê thuốc cho người bệnh [22].
Ở Việt Nam, “bác sĩ đa khoa” cũng là tên một ngành học bậc đại học [23] phân biệt với các chương trình bác sĩ răng-hàm-mặt, bác sĩ y học cổ truyền, bác sĩ y học dự phòng cũng đang được đào tạo trong các trường đại học y. Dân tộc ít người (hay còn gọi là dân tộc thiểu số) ở Việt Nam là nhóm dân tộc có dân số ít hơn so với dân tộc đa số (chiếm trên 50% dân số) trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định trong Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc [16]. Hiện nay, Việt Nam có 53 DTIN không kể người nước ngoài [13]. 4 Vùng dân tộc ít người (hay vùng dân tộc thiểu số) là địa bàn có đông các DTIN cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định trong Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc [16].
Bác sĩ đa khoa đào tạo theo chương trình 4 năm (sau đây gọi tắt là bác sĩ đa khoa 4 năm) là bác sĩ đào tạo theo hệ liên thông (còn gọi là chuyên tu) có thời gian đào tạo 4 năm đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt và được quy định trong Luật Giáo dục đại học [24]. Chương tình bác sĩ đa khoa 4 năm chỉ tuyển sinh y sĩ (trình độ trung cấp) có một số năm kinh nghiệm công tác và cấp bằng bác sĩ đa khoa [20, 25-27]. Thuật ngữ này cần phân biệt với bác sĩ ở nước ngoài, được đào tạo trong 4 năm nhưng không phải chương trình liên thông từ y sĩ.2 Tổng quan nghiên cứu về thực trạng đào tạo bác sĩ 1.1 Thực trạng đào tạo bác sĩ trên thế giới Hiện nay, trên thế giới có khoảng 2.400 cơ sở đào tạo y khoa, đào tạo khoảng 389. Mật độ trường y theo dân số khác biệt khá nhiều, khoảng 2-3 triệu dân có một trường đào tạo bác sĩ, Việt Nam và Trung Quốc thì con số đó là 7-8 triệu dân.
Thậm chí, khu vực châu Phi hoặc vùng cận Sahara có một hoặc không có trường nào [28].1 Nghiên cứu về mô hình đào tạo bác sĩ Một nghiên cứu của N. Tohda khảo sát 35 cơ sở giáo dục y khoa ở một số quốc gia đã cho thấy có ba nhóm hệ thống đào tạo [29]: - Hệ thống đào tạo bác sĩ trình độ đại học: Bác sĩ đào tạo theo hệ thống này được tuyển chọn sau khi học xong chương trình trung học phổ thông, tốt nghiệp tú tài (baccalaurate), thường khoảng 18-19 tuổi. Thời gian đào tạo trong trường y thông thường từ 5-7 năm. Mục tiêu chính của hệ thống này là đào tạo bác sĩ y khoa lâm sàng.
Tốt nghiệp sinh viên được cấp bằng bác sĩ y 5 khoa (medical doctor) hoặc cử nhân y khoa (medical bachelor). Thuộc loại hệ thống này có các nước Nhật Bản, Đức, Hà Lan, Bỉ, Tây Ban Nha, Malaysia. - Hệ thống đào tạo bác sĩ văn bằng hai hoặc sau đại học tuyển chọn sinh viên đã có văn bằng đại học, thông thường ở độ tuổi 22-24. Chương trình đào tạo trong trường y thường 4-5 năm.
Sinh viên tốt nghiệp được cấp văn bằng bác sĩ y khoa (medical doctor). Một số trường có chương trình kết hợp cấp văn bằng kép bác sĩ-tiến sĩ (MD-PhD) khuyến khích bác sĩ có thể làm nghiên cứu. Các nước có hệ thống này Mỹ và Canada. - Hệ thống hỗn hợp gồm cả hai loại như trên, các trường y của các nước có hệ thống này chấp nhận cả sinh viên mới tốt nghiệp tú tài, cả sinh viên đã có văn bằng đại học và được đào tạo theo các chương trình khác nhau.
Các nước có hệ thống này điển hình là Úc, Anh, Ireland, Hàn Quốc và Singapore. Hệ thống giáo dục y khoa của một số nước được hệ thống trong Bảng 1. Nghiên cứu của J. Frenk và các cộng sự cho thấy có sự thay đổi mạnh mẽ trong đào tạo y khoa trong thế kỷ 20 sau báo cáo Flexner tại Hoa Kỳ vào năm 1910.
Báo cáo nghiên cứu cho thấy, đào tạo y khoa từ năm 1900 đến nay đã qua ba giai đoạn đổi mới: giáo dục dựa trên khoa học (trong các trường đại học), dựa trên vấn đề (trong các trung tâm khoa học hàn lâm), và dựa trên hệ thống (hệ thống giáo dục y khoa) [30]. Tuy nhiên, theo Nara và cộng sự [29], chương trình đào tạo y khoa phổ biến hiện nay gồm 3 phần: khoa học tiền lâm sàng (giải phẫu, sinh lý, hoá sinh, mô phôi…) thường gắn với thực hành trong phòng thí nghiệm và khoa học tiền lâm sàng (theo các chuyên ngành như nội, ngoại, sản, nhi, hình ảnh…) thường gắn với thực hành kỹ thuật lâm sàng trong phòng thực hành kỹ năng tiền lâm sàng (skill lab) và bệnh viện (clerkship). Chương trình này được thực hiện trong phạm vi của cơ sở đào tạo trước khi sinh viên được cấp văn bằng tốt nghiệp [29, 31]. 6 Có hai hình thức tuyển chọn chính vào các trường y: Thi tuyển sinh đại học quốc gia chung tất cả các ngành học, chủ yếu đánh giá kiến thức khoa học giáo dục phổ thông và thi tuyển sinh y khoa riêng, ở một số nước như Mỹ (MCAT), Anh (UKCAT, BMAT), Úc (UMAT, GAMSAT), Phillippines (NMAT) [31-36].
McGaghie, Jason R Frank và các cộng sự [30, 37, 38], trong lịch sử phát triển, chương trình y khoa có nhiều thay đổi vừa hiện đại vừa mang tính truyền thống dẫn đến tính đa dạng về mặt cấu trúc. Có ba loại cấu trúc chương trình chính dào tạo y khoa hiện nay là: chương trình cấu trúc theo môn học (subject-based), chương trình dựa trên hệ thống hay cơ quan (organ-based hay system-based), và chương trình dựa trên năng lực (competency-based). Tổ chức Y tế thế giới đề xuất “Chiến lược toàn cầu về nguồn nhân lực y tế” năm 2016 đã nêu giải pháp thiết lập cơ chế kiểm định cho các cơ sở đào tạo y tế” [39]. WHO và Liên đoàn giáo dục y khoa thế giới công bố chung bộ tiêu chuẩn kiểm định giáo dục y khoa cơ bản gồm các tiêu chí thuộc 9 lĩnh vực: (1) Sứ mệnh và kết quả, (2) Chương trình giáo dục, (3) Đánh giá sinh viên, (4) Sinh viên, (5) Nhân viên/giảng viên, (6) Nguồn lực cho giáo dục, (7) Đánh giá chương trình, (8) Quản trị và điều hành, và (9) Tiếp tục đổi mới [40].
Mô hình đào tạo liên thông bác sĩ từ y sĩ hầu như không được đề cập đến trong các tài liệu nghiên cứu. Tuy nhiên, có cơ sở đào tạo ở Mỹ có áp dụng đào tạo y sĩ thành bác sĩ với chương trình có giảm bớt một số yêu cầu như điểm thi MCAT, và một số học phần được miễn song thời gian đào tạo không thay đổi so với các đối tượng sinh viên khác.1 So sánh hệ thống đào tạo bác sĩ của một số nước Số dân/1 Đối tượng Thời gian đào Thời gian thực Thời gian học Tên nước Phương thức tuyển sinh Văn bằng trường y tuyển sinh tạo (năm) tập (năm) nội trú (năm) Thi UKCAT, BMAT hoặc GAMSAT, Anh 1 700 000 THPT 4-5 MBBS 1 2 phỏng vấn GPA, MCAT, bài luận, phỏng vấn, kinh nghiệm lâm sàng, tình nguyện, Mỹ 1 800 000 Cử nhân 4 MD, DO 0-1 năm 3-7 năm khả năng nghiên cứu, khả năng lãnh đạo Nhật Bản 1 600 000 THPT Thi tuyển sinh đại học 6 MD 2 Thi tuyển sinh đại học Cử nhân y Trung Quốc 8 700 000 THPT 5-8 1 2-3 khoa Ấn Độ 3 200 000 THPT Thi tuyển địa phương, CBSE 6 MBBS 2-3 Cử nhân, GPA, UMAT, GAMSAT, phỏng vấn Úc 1 100 000 4-6 MBBS, MD 1 2-3 THPT Cử nhân, Thi tuyển sinh đại học Hàn Quốc 1 200 000 4-6 MD THPT Nga 1 800 000 THPT Thi tuyển sinh đại học 6 MD 1 2-3 8 Số dân/1 Đối tượng Thời gian đào Thời gian thực Thời gian học Tên nước Phương thức tuyển sinh Văn bằng trường y tuyển sinh tạo (năm) tập (năm) nội trú (năm) Đức 2 200 000 THPT GPA 6 MD 1 (48 tuần) Pháp 1 700 000 THPT Thi phân ngành cuối năm thứ 1 đại học 6 MD 3-5 Thi tuyển sinh đại học 2, phục vụ Thái Lan 3 200 000 THPT 6 MD 1 nông thôn Singapore 1 700 000 THPT GPA, BMAT, bài luận, phỏng vấn 5 MBBS 1 Phillippines 2 600 000 Cử nhân Thi tuyển sinh ngành y (NMAT ) 4 MD 4 1-5 Việt Nam 7 300 000 THPT, y sĩ Thi tuyển sinh đại học 4-6 Bác sĩ 1,5 3 (một phần) 9 Ở một số nước như Nhật Bản, Úc,… điều dưỡng đại học đã có chứng chỉ hành nghề có thể được đào tạo thêm và được cấp phép hành nghề với phạm vi chuyên môn được thăm khám, điều trị với một số kỹ thuật giới hạn của bác sĩ, tuy nhiên không được cấp bằng bác sĩ và không được gọi và sử dụng danh hiệu bác sĩ.2 Các nghiên cứu về thực trạng đào tạo y khoa Hiệp hội Các trường đại học y khoa Hoa Kỳ (AAMC) [41] hàng năm đánh giá về các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo của các trường thông qua ý kiến sinh viên y khoa mới tốt nghiệp. Các tiêu chí đánh giá tập trung vào: (1) những trải nghiệm trong trường y, (2) chương trình giảng dạy, (3) môi trường giáo dục, (4) đánh giá suy nghĩ cá nhân, (5) kế hoạch và mối quan tâm trong học tập, (6) mức độ hài lòng của cá nhân, (7) môi trường giáo dục tại nơi học tập.