MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu Công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước đã và đang đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi Đảng, nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội và mọi công dân phải quan tâm hợp lực từng bước giải quyết. Trong đó van đề trọng tâm và có tính quyết định suy cho cùng là nhân tố con người. Để có được nguồn nhân lực pháp lý đảm bảo chất lượng, ngành Giáo dục và Đào tạo đã có bước chuyền mình về cải cách hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó nhiệm vụ đổi mới toàn điện giáo dục đại học được xác định mang tính đột phá.
Với nghĩa đó, chiến lược phát triển giáo dục đào tạo và Đề án cải cách giáo dục đến năm 2020 đã được xây dựng. Cùng với lộ trình này, nhiều chủ trương, chính sách định hướng cho sự đổi mới sâu rộng về giáo dục đào tạo cũng đã đòi hỏi các cơ sở đào tạo đại học trong cả nước đưa ra kế hoạch, bước đi phù hợp mang tính đặc thù riêng, trong đó có Trường Đại học Luật Hà Nội. Đặc biệt, Luật Giáo dục đã được sửa đổi và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2013 đã đặt cơ sở pháp lý cho việc đổi mới giáo dục đại học nói chung và cho các hệ dao tạo đại học nói riêng. Trên co sở đó, việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học cần phải được đặt ra trên nền tảng có tính tổng thể cả về nội dung, chương trình, qui trình đào tạo, quản lý đạy và học cũng như đánh giá kết quả học tập của học viên.
Bên cạnh đó, chất lượng và hiệu quả đào tạo cần được đổi mới theo hướng tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vi và thực hiện sự phân cấp quản lý trong từng đơn vị cơ sở đào tạo. Trường Đại học Luật Hà Nội được xác định xây dựng thành Trường trọng điểm hàng đầu trong đào tạo chuyên ngành Luật. Với gần 35 năm xây dựng và trưởng thành, nhà trường đã đạt được những kết quả đáng trân trọng trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực pháp lý có chất lượng cao cung cấp cho các địa phương, ban ngành trong cả nước. Đóng góp vào sự thành công đó, hình thức đào tạo tại chức (nay gọi là hình thức vừa làm vừa học) đã được thực hiện ở Trường từ năm 1981.
Những năm đầu thập kỷ 80, hình thức dao tạo này chủ yếu thực hiện nhiệm vụ thiết thực, trước mắt là mở các khóa bồi dưỡng, luân huấn, chuyên tu cho cán bộ công chức các ngành tư pháp, nội chính, các cơ quan của tổ chức chính trị, chính trị xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ công cuộc đổi mới. Ngày nay, nhu cầu của sự phát triển với nguyên lý xã hội học tập, hình thức đào tạo vừa làm vừa học đòi hỏi nhà nước phải tạo lập một môi trường thuận lợi để mọi công dân có cơ hội được học tập và cống hiến. Việc từng bước chuyển đổi cấu trúc chương trình, phương thức đào tạo niên chế sang học chế tín chỉ đã phần nào đem lại sự khởi sắc nâng cao chất lượng các loại hình đào tạo nói chung, đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học nói riêng. Sau hơn ba mươi năm phát triển, mặc dù đã có nhiều kinh nghiệm trong tổ chức, quản lý các khóa học và được xã hội thừa nhận về chất lượng đào tạo nhưng so với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp cần phải có sự đổi mới tích cực và toàn diện hơn đối với hệ đào tạo nay.
Chính vì vậy, việc chon đề tài Quản Ip đào tạo đại học hình thức vừa làm vừa học ở Trường Đại học Luật Hà Nội- thực trạng và giải pháp để nghiên cứu mang tính cấp thiết bởi: - Về phương diện nhận thức: Mặc dù đào tạo chuyên tu-tại chức tại Trường đã chuyển sang đào tạo theo hình thức vừa làm, vừa học nhưng tư duy, quan niệm và nhận thức về yêu cầu quản lý, qui trình đào tạo cũng như đối xử với người học nhìn chung chưa đáp ứng, phù hợp với nguyên lý xã hội học tập và định hướng của phương thức dao tạo này. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, chỉ ra những tồn tại của thực tiễn sẽ làm tiền đề, cơ sở nhận thức đổi với việc thực hiện các giải pháp khắc phục yếu kém, nâng cao hiệu quả quản lý. - Về mặt thực tế: + Chất lượng đào tạo đại học hình thức vừa học vừa làm hiện nay ở nước ta nhìn chung đang ít hoặc nhiều bị xã hội lên tiếng. Có nhiều nguyên nhân đem lại hạn chế này, trong đó công tác quản lý, đánh giá kết quả quá trình đào tạo cũng là một trong các tác nhân trực tiếp.
Trong bối cảnh thực tế đó, Trường Đại học Luật Hà Nội cần phải kịp thời có những đánh giá đúng thực trạng chất lượng đào tạo của mình để có những giải pháp nâng cao chất lượng, uy tín xứng đáng là trường trọng điểm trong đào tạo chuyên ngành Luật theo Nghị quyết 49/NQ-TW (hệ đào tạo chính qui đã được thực hiện theo qui trình đánh giá ngoài năm 2010). + Nhà trường cũng đã chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang dao tạo tín chỉ nên chương trình đào tạo, thời gian đào tạo, cầu trúc môn học, qui trình quản lý, đánh giá kết quả học tập. đối với đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học cho thấy một số điểm còn chưa hợp lý, cần phải nghiên cứu để bổ sung, hoàn thiện thêm. + Mặc dù có bề dày truyền thống trong đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học, tuy nhiên những giải pháp hữu ích, mới mẻ của phương thức quản lý hiện đại chưa được áp dụng, kinh nghiệm quản lý đào tạo của các đơn vị khác trong nước chưa được học tập, tiếp thu một cách tích cực.
Tình hình nghiên cứu Giáo dục đại học và quản lý giáo đào tạo đại học là những vấn đề có liên quan chặt chẽ với nhau. Ở nước ta, hai nội dung này đang là những điểm trăn trở lớn của các nhà quản lý chuyên ngành và là "điểm nóng" trong con mắt dư luận xã hội. Đào tạo đại học hình thức vừa làm vừa học nhìn chung được cả xã hội quan tâm chủ yếu trên hai phương diện chính là đánh giá chất lượng, phương thức quản lý. Bộ Giáo dục và Đào tạo nhận thấy những bat cập, hạn chế về vẫn đề nay nên đã tô chức hội thảo ban về các giải pháp nâng cao chất lượng đào tao đối với hệ này vào tháng 8/2012 tại Da Nẵng.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu với mục đích là làm sao để giáo dục, quản lý nhà nước về giáo dục nói chung không bị lạc hậu, làm sao nâng cao chất lượng đào tạo, quản lý đào tạo đại học, chiến lược giáo dục đại học, đổi mới nội dung, chương trình, cơ chế quản lý, đội ngũ giáo viên, học viên. Một số công trình tiêu biểu như: - Về đề tài nghiên cứu khoa học: + Tại Trường Đại học Luật Hà Nội, có 01 công trình ít nhiều có liên quan đến vấn dé nghiên cứu là dé tài cấp Bộ do PGS.TS Tran Ngọc Dũng làm chủ nhiệm "Đào tạo can bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ cho hội nhập quốc té ở Việt Nam" (đã được nghiệm thu năm 2004). Trần Hồng Quân (1995): "Mộ số vấn dé đổi mới trong lĩnh vực giáo đục và dao tao", Nhà xuât bản Giáo dục, Hà Nội. Day là công trình nghiên cứu của tác giả nguyên là người đứng đầu bộ quản lý chuyên ngành nên đã dé cập được nhiều khía cạnh về déi mới phương thức quản lý giáo dục, bao gồm quản lý nhà trường, giáo viên, người học và đặc biệt là tập trung vào phương tức điều hành quản lý giáo dục.
+ Dự án nghiên cứu Giáo dục đại học-Bộ Giáo dục và Đào tao (2004): "Ca so xây dựng và hoàn thiện Điều lệ trường đại học, cao đẳng". + Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (1996): "Quản lj giáo duc đại học cấp cơ sở", UNESCO-HEP phát hành. + Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003): "Báo cáo hiện trạng và khuyến nghị về phân cấp quản lý giáo dục". Dự án hỗ trợ số ALA/8-0124, Hà Nội.
- Về luận văn, luận án nghiên cứu + Luận văn thạc sĩ (2007): "Thue trạng quan ly hệ đào tạo tại chức ở trưởng Đại hoc An ninh nhân dân" (Trường Dai học sư phạm Thành phố Hỗ Chi Minh); + Luận văn thạc sĩ (2009) của Vũ Thi Gam: "Biện pháp quản lý quá trình đào tạo hệ vừa làm vừa học ở Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội". + Luận văn thạc sĩ (2011) của Tô Thị Phương Lan: "Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở Trường Đại học Điện lực". + Luận văn thạc sĩ (2009) của Nguyễn Khánh Thọ: "Biện pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở tại các cơ sở liên kết dao tạo của Tirường Đại học Nông nghiệp Hà Nội". + Luận văn thạc sĩ (2006) của Phạm Trung Kiên: "Hoàn thiện qui trình đào tạo cu nhân Tại chức ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền".
+ Nguyễn Đức Cường (Luận án tiến sĩ Luật học,2009): "Hoàn thiện pháp luật về quản lý các trường đại học, cao dang đáp ứng yêu câu đổi mới giáo duc dai học Việt Nam hiện nay". - Một số bài viết có liên quan + GS.TSKH Banh Tiến Long-TS. Mai Văn Tỉnh (2002): "Đổi mới giáo duc đẹi học Việt Nam". Đây là một ban báo cáo tham luận tại hội thảo khoa học giữa Việt Nam và Cộng hòa Liên bang Đức về chiến lược đổi mới giáo dục đại học ở nước ta, Hà Nội.TS Trần Văn Nhung (2003): ” Giáo duc đại học Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập".
Trong khuôn khô của một bài viết, tác giả tập trung vào các vẫn đề cơ bản như sự cần thiết phải đổi mới về giáo dục ở nước ta và những giải pháp đề thực hiện việc đổi mới nền giáo dục đáp ứng hội nhập, quốc tế hóa hiện nay.TSKH Banh Tiến Long (2005): "Đổi mới giáo duc đại học Việt Nam". Là nhà một nhà khoa học giáo dục và quản lý giáo dục giàu kinh nghiệm, tác giả đã chỉ ra những bất cập, hạn chế trong giáo dục đại học chủ yếu tập trung vào ba lĩnh vực: đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế. - Vũ Ngọc Hai (2005): "Giáo duc Việt Nam và những tác động cua WTO", Tạp chí Khoa học Giáo dục.