CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO NGHỀ 1. Một số vấn đề lý thuyết về nâng cao chất lượng đào tạo nghề 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về đào tạo Theo Luật giáo dục nghề nghiệp, 2014, “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”.8] Bản chất của “đào tạo” là việc dạy các kỹ năng thực hành, kỹ năng nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, với mục tiêu giúp người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức một cách có hệ thống, tạo tiền đề cho người học thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định.
Khái niệm đào tạo có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục. Thông thường, đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định. Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo. Khái niệm về nghề Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, 2002, đưa ra định nghĩa “Nghề là công việc chuyên làm, theo sự phân công của xã hội”.76] Bên cạnh đó cũng có thể hiểu “Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định”.
Nghề bao gồm nhiều chuyên môn. Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc 7 giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội. Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Khái niệm về đào tạo nghề Luật giáo dục nghề nghiệp đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2104 đưa ra khái niệm như sau: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”.
Luật cũng quy định có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp, trung cấp và cao đẳng.8] Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Khái niệm về nâng cao chất lượng đào tạo nghề Chất lượng đào tạo nghề được xem như chất lượng của quá trình đào tạo, nó được thể hiện ở kết quả đem lại “giá trị gia tăng” (sự vượt trội sau quá trình đào tạo) của học sinh, sinh viên như khối lượng, nội dung, trình độ kiến thức được đào tạo và kỹ năng thực hành, năng lực nhận thức, năng lực tư duy cùng những phẩm chất nhân văn được đào tạo; thể hiện ở sự hoàn hảo trong thực hiện mục tiêu đào tạo của cơ sở; thể hiện ở mức độ xứng đáng với sự đầu tư 8 của học sinh, cơ sở đào tạo, nhà nước và xã hội; và thể hiện ở sự hài lòng của học sinh, sinh viên khi theo học chương trình. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề là quá trình cải tiến các yếu tố ảnh hưởng cũng như các khâu trong quá trình đào tạo nhằm thu được hiệu quả giáo dục và đào tạo cao nhất. Nâng cao chất lượng đào tạo yêu cầu cải tiến liên tục ở mọi khâu, mọi công đoạn, trong suốt quá trình đào tạo, liên quan tới người dạy, người học, cán bộ quản lí, nhân viên phục vụ, điều kiện cơ sở vật chất.
Vai trò của việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề Thứ nhất, các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: (i) áp dụng công nghệ mới, (ii) phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và (iii) nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là những con người được đào tạo, đặc biệt là nhân lực có kỹ năng nghề cao. Thứ hai, vai trò của việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với chất lượng nguồn nhân lực xuất phát từ khía cạnh lợi ích cá nhân của con người (con người lao động). Lý thuyết về vốn nhân lực hiện đại cho rằng “tất cả các hành vi của con người đều xuất phát từ những nhu cầu lợi ích kinh tế cho chính các cá nhân hoạt động tự do trong thị trường mang tính cạnh tranh.
Các dạng biểu hiện khác đều bị cho là không thuộc phạm vi hoặc sự biến dạng của lý thuyết này”. Thứ ba, nâng cao chất lượng đào tạo nghề tạo ra sự “tranh đua” xã hội và trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động, những người học vấn thấp, kỹ năng, tay nghề thấp hoặc không có nghề khó có thể cạnh tranh được so với những người có trình độ, có kỹ năng nghề cao. Khi đó, họ sẽ trở thành nhóm người “yếu thế”, phải làm những việc thu nhập thấp, thậm chí không kiếm được việc làm, trở thành người thất nghiệp dài hạn và nhận trợ cấp xã hội. Thứ tư, vai trò của việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện thông qua chính nhu cầu phát triển của 9 nền kinh tế.
Nhu cầu của nền kinh tế công nghiệp đòi hỏi phải phát triển đội ngũ lao động có kiến thức, có kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng làm chủ được các phương tiện, máy móc, làm chủ được công nghệ. Nội dung nâng cao chất lượng đào tạo nghề 1. Xây dựng chương trình đào tạo Chương trình đào tạo đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo ở mọi cấp, ngành học. Do vậy chương trình đào tạo cần phải thường xuyên được cập nhật, điều chỉnh hoặc xây dựng mới trên cơ sở áp dụng phương pháp đào tạo tích cực, khuyến khích người học phát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học, tự nghiên cứu của mình.
Nội dung chương trình đào tạo phải cân đối giữa lý thuyết với thực hành và đặc biệt là phải gắn với thực tiễn sản xuất của các doanh nghiệp. Quản lý đội ngũ giảng viên Cần đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng kỹ sư, cử nhân, nghệ nhân, người có kỹ năng nghề cao đã làm việc tại doanh nghiệp về kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm trở thành nhà giáo giáo dục nghề nghiệp. Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo ở các nước phát triển, áp dụng chuẩn của các nước phát triển để hình thành đội ngũ giảng viên hạt nhân đạt chuẩn quốc tế có đủ năng lực để đào tạo chương trình chuyển giao từ nước ngoài, đồng thời đào tạo lại các giảng viên khác trong hệ thống. Tăng cường đào tạo tin học, ngoại ngữ cho các nhà giáo.
Huy động, khuyến khích các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tham gia đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề cho giảng viên bằng hình thức tiếp nhận họ đến thực tập tại doanh nghiệp để cập nhật, nâng cao kỹ năng thực hành nghề, tiếp cận công nghệ mới. Đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa để hình thành đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp chuyên nghiệp. Tăng cường công tác tuyển sinh và quản lý HSSV Công tác tuyển sinh và quản lý HSSV là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của nhà trường. Để công tác tuyển sinh thật sự có hiệu quả và chất lượng, nhà trường cần phải kết hợp và sử dụng bằng rất nhiều biện pháp, như: - Xây dựng kế hoạch tuyển sinh bài bản.
10 - Thành lập phòng tư vấn hướng nghiệp và tuyển sinh chuyên nghiệp có nghiệp vụ, nắm bắt nhu cầu tuyển dụng các ngành nghề của doanh nghiệp từ đó tư vấn hướng nghiệp cho người học nhằm nâng cao chất lượng tuyển sinh. - Hoạt động quảng bá, tư vấn tuyển sinh phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, hình thức quảng bá phải đa dạng để quảng bá các ngành nghề đào tạo của nhà trường nhằm thu hút sự chú ý của người học. - Mở rộng phạm vi tuyển sinh ra các tỉnh, thành phố trong khu vực, chủ động liên kết với các địa phương, trung tâm giáo dục thường xuyên, phòng hướng nghiệp tại các trường THCS, THPT trong công tác tư vấn, hướng nghiệp, tuyển sinh. - Tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp trong và ngoài ngành, trong và ngoài thành phố để vừa tạo cơ hội cho người học được thực hành, thực tập sản xuất nâng cao kỹ năng, đồng thời tạo cơ hội việc làm cho người học khi chính các doanh nghiệp này tiếp nhận.
- Quản lý HSSV trong suốt thời gian học nghề theo hướng trang bị cho HSSV thái độ sống tích cực, phẩm chất và văn hóa nghề, tác phong lao động công nghiệp, tinh thần hợp tác trong công việc, kỹ năng giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo trong công việc, v.v… Đây là các chỉ báo rất quan trọng nhưng không dễ dàng định lượng, và chỉ có thể đánh giá gián tiếp thông qua khảo sát ý kiến đánh giá của chính học viên và người sử dụng lao động.