CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO HỆ TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP 1.1 Hệ thống giáo dục Việt Nam - Hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên. - Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: a. Giáo dục mầm non bao gồm có nhà trẻ và mẫu giáo b. Giáo dục phổ thông gồm: tiểu học, PTCS, PTTH c.
Giáo dục nghề nghiệp gồm: TCCN và dạy nghề d. Giáo dục đại học và sau đại học gồm: đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ. [14, điều 4] - Sự đổi mới của Luật giáo dục 2012 so với Luật giáo dục 2005 là coi giáo dục thường xuyên không chỉ là một phương thức học tập mà còn là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho việc học tập suốt đời của nhân dân. - Vào năm 2011 tỷ lệ sinh viên là 2,4% so với dân số Việt Nam (Theo thống kê của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo) và theo đề án phát triển giáo dục thì tỷ lệ này sẽ tăng lên 4% vào năm 2020.
Nhìn chung tỷ lệ này còn khá thấp so với các nước phát triển như Hàn Quốc, Mỹ. - Theo thống kê của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo thì ngân sách Nhà nước cấp cho giáo dục vào năm 2013 là hơn 194.400 tỷ đồng và đã tăng lên so với năm 2012 là 24. - Trong đó, chi cho GDTW là 42.200 tỷ đồng, chi cho GD địa phương là 152. Số tiền chi cho GD cơ bản là 30.015 tỷ đồng, chi thường xuyên cho GDĐT là 164.
- Hệ thống giáo dục Việt Nam đang đổi mới theo hướng hội nhập khu vực và quốc tế với chiến lược lâu dài là mở rộng quy mô giáo dục trên cơ sở đảm bảo chất lượng. Mục tiêu lâu dài là xây dựng một xã hội học tập, trong đó ai cũng được học tập, đào tạo để thông thạo ít nhất một nghề. Tuy nhiên, đây là một mục tiêu mà để thực hiện được còn rất Học viên: Vũ Trần Nam 1 CHQTKD 2012 - 2014 Luận văn cao học QTKD Viện Kinh tế và Quản lý ĐHBK Hà Nội nhiều khó khăn. Một trong những lý do là nguồn nhân lực của chúng ta còn quá hạn hẹp, cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn nên chưa đủ để mở rộng mạng lưới các cơ sở giáo dục và đào tạo.
- Tổ chức và hoạt động giáo dục đã có những sự thay đổi căn bản, hướng tới sự đa dạng hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã hội hóa. Việt Nam cũng đã có những bước đi chủ động trong hội nhập giáo dục, tiếp nhận giáo dục từ nước ngoài. - Nhiều năm qua, với chủ trương xã hội hóa giáo dục, nhiều trường đại học ra đời, nhưng chưa quan tâm đúng mức đến trường dạy nghề, TCCN, hệ thống đào tạo nghề nghiệp vẫn bị coi là nặng về lý thuyết. Luật giáo dục sửa đổi năm 2012 đã đánh dấu một bước phát triển mới cho giáo dục nghề nghiệp.
Học viên: Vũ Trần Nam 2 CHQTKD 2012 - 2014 Luận văn cao học QTKD Viện Kinh tế và Quản lý ĐHBK Hà Nội *. Sơ đồ hệ thống giáo dục Việt Nam: Hình 1.1: Hệ thống giáo dục Việt Nam Học viên: Vũ Trần Nam 3 CHQTKD 2012 - 2014 Luận văn cao học QTKD Viện Kinh tế và Quản lý ĐHBK Hà Nội 1.2 Chất lượng đào tạo và quản lý chất lượng đào tạo 1.1 Khái niệm chất lượng và chất lượng đào tạo - Trong kinh doanh có rất nhiều khái niệm về chất lượng sản phẩm như: + Từ đặc tính sản phẩm: Chất lượng sản phẩm trong sản xuất công nghiệp là một tập hợp các đặc tính của sản phẩm phản ánh giá trị sử dụng của nó. + Xuất phát từ quan điểm của người sản xuất: Chất lượng sản phẩm là sự đạt được và tuân thủ đúng những tiêu chuẩn, yêu cầu kinh tế kỹ thuật đã được thiết kế từ trước. + Xuất phát từ người tiêu dùng: Chất lượng là sự phù hợp yêu cầu và mục đích của người tiêu dùng.
+ Xuất phát từ mối quan hệ chi phí – lợi ích: Chất lượng sản phẩm là thoả mãn được khả năng thanh toán của khách hàng. + Xuất phát từ cạnh tranh: Chất lượng sản phẩm là tạo ra các đặc điểm sản phẩm và dịch vụ mà đối thủ cạnh tranh không có được. + Xuất phát từ thị trường: Chất lượng sản phẩm là sự thoả mãn và vượt sự mong đợi của khách hàng. - Theo tài liệu trên trang web [20], chất lượng sản phẩm được các chuyên gia hàng đầu định nghĩa: + Chất lượng là sự phù hợp với sử dụng, với công dụng.
+ Chất lượng là sự phù hợp với những yêu cầu hay đặc tính nhất định. + Chất lượng sản phẩm là tập hợp các đặc tính kỹ thuật, công nghệ và vận hành của sản phẩm, nhờ chúng mà sản phẩm đáp ứng được những yêu cầu của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm. + Chất lượng là sự phù hợp với mục đích, ý định. - Từ những khái niệm trên và chất lượng đào tạo ta thấy được: + Chất lượng đào tạo tốt góp phần vào việc xây dựng thương hiệu, hình ảnh, danh tiếng của trường.
Để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần phải có một lực lượng lao động có chất lượng cao. Muốn vậy, phải nâng cao chất lượng đào tạo của trường vì thế việc nâng cao chất lượng đào tạo luôn là nhiệm vụ quan trọng của trường trung cấp Xây dựng – Hà Nội nói riêng hay của hệ thống giáo dục của đất nước Học viên: Vũ Trần Nam 4 CHQTKD 2012 - 2014 Luận văn cao học QTKD Viện Kinh tế và Quản lý ĐHBK Hà Nội nói chung. + Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng đào tạo là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường, khó nắm bắt và cách hiểu của mỗi người, mỗi cấp, mỗi góc độ cũng khác nhau. * Theo từ điển Tiếng Việt [18, trang 144]: - “ Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của một sự vật, sự việc”.
* Theo Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa: - “ Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”. * Các cách tiếp cận về chất lượng đào tạo: - Chất lượng là phù hợp với các tiêu chuẩn: + Tiếp cận theo cách này, chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được đo bằng sự phù hợp của nó với các thông số hay tiêu chuẩn được quy định trước đó. + Trong giáo dục đào tạo hiện nay chưa có một chuẩn chung, nhất là kỹ năng nghề, vì vậy trường đã xây dựng chuẩn đầu ra cho các ngành đào tạo của trường và giáo viên phải thực hiện quá trình đào tạo theo các chuẩn đó. Theo cách này, để nâng cao chất lượng đào tạo thì các tiêu chuẩn đó cũng phải được nâng cao.
- Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu, mục đích: + Ngoài sự phù hợp với các thông số hay tiêu chuẩn được quy định trước, chất lượng còn phải phù hợp với mục đích của sản phẩm hay dịch vụ đó. Chất lượng được đánh giá bởi mức độ mà sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng được mục đích đã tuyên bố. Với cách hiểu này, chất lượng phát triển theo thời gian, tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Tùy thuộc vào từng loại trường và có thể sử dụng để phân tích chất lượng đào tạo ở các cấp độ khác nhau.
- Luật dạy nghề quy định: “ Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo…” [15, điều 4] - Tiếp cận theo cách này, chất lượng sẽ được xem là mức độ đáp ứng của học sinh tốt nghiệp với thị trường lao động. Chất lượng là hiệu quả việc đạt mục đích của nhà trường Học viên: Vũ Trần Nam 5 CHQTKD 2012 - 2014 Luận văn cao học QTKD Viện Kinh tế và Quản lý ĐHBK Hà Nội - Theo cách hiểu này, trường có chất lượng cao là trường tuyên bố rõ mục đích của của mình và đạt được mục đích đó một cách hiệu quả và hiệu suất cao nhất, đây là chất lượng tương đối – bên trong. Thông qua kiểm tra, thanh tra chất lượng, các tổ chức hữu quan xem xét, đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng của trường có giúp nhà trường hoàn thành sứ mạng một cách hiệu quả và và hiệu suất cao hay không. Trong chất lượng đào tạo có hiệu quả đào tạo – đào tạo có chất lượng trước hết phải là đào tạo có hiệu quả.
Chất lượng đào tạo dưới góc độ quản lý - Dưới góc độ quản lý và cũng là cách xưa nay khi đánh giá chất lượng đào tạo của một cơ sở đào tạo, trước tiên phải nhìn vào tỷ lệ đỗ - trượt, tỷ lệ học viên tốt nghiệp, tỷ lệ học viên bỏ học, tỷ lệ học viên khá – giỏi. Như cách tính hiện nay của ngành Giáo dục, hiệu suất đào tạo được tính bằng tỷ lệ phần trăm số học viên tốt nghiệp trên số học sinh nhập học. Chất lượng đào tạo dưới góc độ người sử dụng - Dưới góc độ người sử dụng, mà phần lớn là các doanh nghiệp, chất lượng đào tạo được đánh giá qua kiến thức, kỹ năng, tay nghề, khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao, khả năng thích ứng với môi trường, đạo đức, tác phong làm việc của người được sử dụng. Chất lượng đào tạo dưới góc độ giảng dạy - Dưới góc độ giảng dạy chất lượng đào tạo được xem xét trên cơ sở truyền đạt, chuyển giao kiến thức tốt, môi trường giảng dạy, học tập tốt và quan hệ tốt giữa giảng dạy và ngiên cứu.
Chất lượng đào tạo dưới góc độ người học: - Đối với người học, ngoài kiến thức, kỹ năng, tay nghề, chất lượng đào tạo còn được xem xét, cân nhắc về giá trị của bằng cấp, khả năng tìm việc làm sau khi tốt nghiệp, sự phát triển cá nhân và việc chuẩn bị cho một vị trí xã hội trong tương lai. - Về nguyên tắc có thể đo giá trị trung bình của tri thức qua giáo dục bằng thu nhập ròng mà nó đem lại cho người học tạo ra trong suốt cuộc đời của họ sau khi trừ đi chi phí cần thiết. Tuy nhiên, để tính được một cách tương đối chính xác cũng là rất khó khăn vì: + Tiên đoán được chính xác thu nhập ròng này chỉ từ yếu tố giáo dục tạo ra.