CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo 1. Ở nước ngoài Hoạt động quản lý đảm bảo chất lượng hiện đang phát triển ở nhiều mức độ khác nhau tại các quốc gia trên thế giới. Một số quốc gia đã xây dựng được hệ thống kiểm định chất lượng từ khá lâu như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines.
Những nghiên cứu về quản lý chất lượng dạy nghề luôn gắn liền với các vấn đề quản lý bảo đảm chất lượng đào tạo và được triển khai rất mạnh. Cho đến nay ở các nước phát triển căn bản đã hình thành những lý thuyết về chuẩn, quản lý dựa vào chuẩn, các mô hình kiểm định chất lượng đào tạo nghề cùng những kỹ thuật và công cụ phong phú. Tất cả những vấn đề như vậy đều trực tiếp thuộc hệ thống quản lý chất lượng giáo dục. Ở Úc, năm 1992 Uỷ ban Đảm bảo Chất lượng Giáo dục Đại học (The Committee For Quality Assurance in Higher Education) được thành lập với nhiệm vụ tư vấn cho chính phủ về các vấn đề đảm bảo chất lượng đào tạo.
Ở Hàn Quốc, Uỷ ban Kiểm định Chất lượng Giáo dục Đại học Hàn Quốc (The Committee For University Accreditation) chịu sự quản lý và quan sát của hội đồng giáo dục Đại học Hàn Quốc (Korean Council For University Education_KCUE). Tác giả người Anh Robert C. Winn với tác phẩm “Áp dụng quản lý chất lượng đến quá trình giáo dục” đã đưa ra các yếu tố chính để thành công trong vấn đề áp dụng quản lý chất lượng đào tạo trong giáo dục đó là (1) có được sự hỗ trợ của tất cả mọi người trong chuỗi giám sát; (2) xác định khách hàng của bạn; (3) tập trung vào cải tiến quy trình; (4) sử dụng 14 điểm Deming như một hướng dẫn và danh sách kiểm tra trong nỗ lực thực hiện [42]. William Edwards Deming - một nhà nghiên cứu thống kê người Mỹ, W.
Deming, không chỉ được tôn vinh là “cha đẻ của quản lý chất lượng”, ông còn được cả thế giới thừa nhận là “một cố vấn trong ngành thống kê học”. Những tác phẩm tiêu biểu của ông, “Ra khỏi cơn khủng hoảng” (“Out of the Crisis”, 1986), “Nền Kinh tế mới” (“The New Economics”, 1994), Deming chủ trương theo dõi chặt chẻ mọi quá trình đào tạo bằng công cụ thống kê, đó là vòng tròn quản lý chất lượng của Deming: lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, kiểm tra và khắc phục sai lỗi; và đưa ra học thuyết quản lý chất lượng. Trong tác 12 phẩm “Thoát khỏi cơn khủng hoảng”, ông đã dưa ra 14 điểm nhằm quản lý cải tiến chất lượng [44]. Tác giả Edward Sallis cho tác phẩm “Quản lý chất lượng trong giáo dục” dùng cho các nhà quản lý trong Giáo dục, tác phẩm đã đưa ra phương pháp quản lý đảm bảo chất lượng được sử dụng rộng rãi trong kinh doanh và nhất là trong lĩnh vực giáo dục [41].
Ở Việt Nam Đã có khá nhiều công trình đề cập đến công tác quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo, nhưng phần lớn các nhà quản lý giáo dục, các chuyên gia giáo dục và các luận văn thạc sĩ tập trung vào quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo ở các Trung tâm, trường Cao đẳng, Đại học. Cụ thể, tác giả Lâm Quang Thiệp – nguyên Vụ trưởng Vụ Đại học – Bộ Giáo dục và Đào tạo có bài “Một số giải pháp nhằm đảm bảo chất lượng cho hệ thống giáo dục đại học” [2] trong đó đề cập đến một số giải pháp về tổ chức, quản lý đảm bảo chất lượng giáo dục đại học chính quy và không chính quy. Đề án của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã được phê duyệt theo quyết định số 4138 nghiên cứu xây dựng và phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục Đại học và Trung Cấp Chuyên Nghiệp giai đoạn 2011 – 2020 đã củng cố và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về kiểm định chất lượng giáo dục đối với GDĐH - TCCN, tạo môi trường và hành lang pháp lý cho sự phát triển ổn định hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục; xây dựng và phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục để triển khai đánh giá các cơ sở giáo dục và chương trình GDĐH, các trường TCCN đạt tiêu chuẩn chất lượng, góp phần vào việc đảm bảo và nâng cao chất lượng GDĐH – TCCN; xây dựng chính sách để phát triển đội ngũ chuyên gia đánh giá ngoài có đủ trình độ và số lượng để triển khai các hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục đối với GDĐH – TCCN; Tăng cường hợp tác quốc tế với các nước trong khu vực và trên thế giới trong lĩnh vực kiểm định chất lượng giáo dục đối với GDĐH – TCCN [12]. Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Giáo dục của tác giả Võ Thị Bích Hạnh với đề tài Thực trạng và giải pháp quản lý chất lượng đào tạo tại các trung tâm dạy nghề ở Tp.HCM đã đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cho các trung tâm dạy nghề, đã nhấn mạnh các trung tâm dạy nghề vẫn có khả năng và tiềm lực lớn để cung cấp những “sản phẩm đào tạo” có chất lượng cao hơn và đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động nhiều hơn nữa, nếu có những công cụ mới, những giải pháp hiệu quả và đồng bộ [25].
13 Tác giả Phạm Quang Huân, có bài viết “Quản lý chất lượng theo ISO 9000 với vấn đề đổi mới quản lý giáo dục phổ thông” (Tạp chí Khoa học Giáo dục, Viện CL và CT GD. Số 20 – 2007) đã đưa mô hình quản lý chất lượng ISO 9000 ứng dụng vào giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục Phổ Thông nói riêng. Mô thức quản lý nhà trường theo tinh thần ứng dụng ISO 9000 cũng được đổi mới nhờ đề cao cách quản lý theo quy trình. Nhìn tổng thể, quá trình giáo dục đào tạo của một nhà trường được rải ra trên các quá trình bộ phận tựa như các mắc xích: đầu vào, quá trình đào tạo (bao gồm các quá trình nhỏ hơn như dạy học và giáo dục đạo đức học sinh, phối hợp các nguồn lực, điều hành, kiểm tra đánh giá) và đầu ra.
Mỗi mắc xích đều có những tiêu chuẩn cụ thể, có quy trình và cách thức phối hợp các nguồn lực để thực hiện hiệu quả quy trình đó. Vận hành quản lý theo ISO 9000 chính là đảm bảo cho sự trôi chảy của các quá trình ấy, theo những chuẩn mực cụ thể, nhờ đó mà nâng cao chất lượng giáo dục [27]. Tạp chí Khoa học Giáo dục có bài viết “Chất lượng đào tạo nhân lực trong cơ chế thị trường” của Phan Văn Kha (số 10, 2006), tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng có bài “Đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học” của Nguyễn Quang Giao (số 4, 2010) đã đề cập đến vai trò quan trọng của chất lượng đào tạo và đưa ra giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo ở các trường Nghề, Trung cấp chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học, đáp ứng kịp thời những đòi hỏi lớn và ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi mới kinh tế, xã hội…Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [22], [28]. Tác giả Vũ Thị Phương Anh Giám đốc Trung tâm Khảo thí và Đánh giá chất lượng đào tạo ĐHQG – HCM nghiên cứu vấn đề “Đảm bảo chất lượng giáo dục tại Đại học tại Việt Nam với nhu cầu hội nhập” đã nêu tổng quan về quan điểm chất lượng trong giáo dục đại học tại Việt Nam qua các giai đoạn, hệ thống và cơ chế đảm bảo chất lượng giáo dục đại học hiện nay, cùng các thành quả và các vấn đề cần giải quyết để tiếp tục đẩy mạnh triển khai đảm bảo chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam [1].
Ở Việt nam đã áp dụng phương pháp quản lý chất lượng bằng mục tiêu (Management By Objectives – MBO) vào quản lý chất lượng đào tạo trong giáo dục và mang lại hiệu quả cao như hình thành một hệ thống giáo dục chuẩn về kiến thức, chuẩn về cơ sở vật chất. Trong các cơ sở giáo dục và đào tạo người ta đã đề ra những mục tiêu chung cho cơ sở và trong các mục tiêu chung đó, họ xây dựng nên những mục tiêu nhỏ hơn cho các bộ phận. Các nhà trường xây dựng các mục tiêu như cây mục tiêu (trong “lý thuyết hệ thống và điều 14 khiển học” của PGS.Lưu Xuân Mới) để hoàn thành xuất sắc mục tiêu chung của nhà trường từ những mục tiêu nhỏ. Một số trường áp dụng mô hình quản lý MBO có hiệu quả như Trường PTTH Hà Nội – Amsterdam; Trường THPT Tư thục Nhân Việt.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã nêu được mặt mạnh, mặt yếu và đưa ra những chiến lược nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo, đặc biệt ở các trường Đại học, còn nghiên cứu về quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo ở trường TCCN chưa được quan tâm đúng mức nhất là ở Trường Trung cấp Công nghệ Lương thực Thực phẩm Tp. Vì vậy, tác giả muốn tập trung nghiên cứu sâu hơn vấn đề này ở Trường Trung cấp Công nghệ Lương thực Thực phẩm Tp. Một số khái niệm 1. Khái niệm về quản lý 1.
Khái niệm Khái niệm “quản lý” đã được các nhà khoa học nhận định đa dạng như sau: Theo tác giả F. Taylor thì “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất” [16, tr. Theo tác giả Henry Fayol thì “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [16, tr. Theo Mary Parker Follett thì “Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác” và theo Stoner “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt những mục tiêu của tổ chức” [32].
Như vậy có thể xem quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Mục tiêu quản lý Mục tiêu quản lý là yếu tố cơ bản của hệ thống quản lý.