Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm về vệ sinh tay Vệ sinh tay (Hand hygiene): Là một thuật ngữ chung để chỉ hoặc rửa tay bằng xà phòng thường, rửa tay bằng xà phòng khử khuẩn hoặc chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn. Tại Châu Âu và tại Mỹ, vào những năm thế kỷ XIX, nguyên nhân gây tử vong 25% bà mẹ sinh con tại các bệnh viện là do vi khuẩn Streptococcus. Tại một hội thảo khoa học ở Paris vào năm 1879, bác sỹ Louis Pasteur nói rằng “Nguyên nhân gây tử vong ở những bà mẹ bị nhiễm trùng hậu sản chính là các bác sỹ đã sử dụng bàn tay khám các bà mẹ bị bệnh rồi khám các bà mẹ mạnh khỏe”.
Từ đó, Lý thuyết về “Mầm bệnh” và phương pháp tiệt khuẩn Pasteur được sử dụng tới ngày nay (16). Sau những năm 1990, một số nước như ở Mỹ và New England đã tổ chức khóa giảng dạy và tập huấn đầu tiên về vệ sinh bàn tay cho nhân viên y tế và tiến hành nghiên cứu tại bệnh viện. Báo cáo cho thấy, tỷ lệ tuân thủ quy trình rửa tay của nhân viên y tế cao nhất chỉ đạt 48%, mặc dù đã áp dụng những biện pháp giáo dục và giám sát đặc biệt. Vào năm 1992, Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh (CDC) Hoa Kỳ cho biết tại các bệnh viện, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện từ 5% đến 15% (17).
Tại Việt Nam, trong các năm gần đây, vấn đề về kiểm soát nhiễm khuẩn nói chung và thực hành vệ sinh tay nói riêng ngày càng được ngành y tế quan tâm. Năm 2006, Khi thực hiện dự án “tăng cường vệ sinh bệnh viện” của Bộ Y tế được triển khai, thì nội dung vệ sinh tay thường quy sử dụng nước và xà phòng được xem là một trong các biện pháp chiến lược (18). 5 Năm 2009, tuân thủ vệ sinh tay được đưa vào nội dung Thông tư 18/2009/BYT-TT hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám, chữa bệnh (14). Hưởng ứng phong trào thực hành vệ sinh tay toàn cầu, ngày 5 tháng 5 năm 2010, lãnh đạo ngành y tế Việt Nam đã ký cam kết với WHO và đưa Vỉệt Nam trở thành quốc gia thứ 118 cam kết tập trung tất cả năng lực, hướng tới tầm quan trọng của việc tuân thủ vệ sinh bàn tay trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe (19).
Năm 2017, Bộ Y tế tiếp tục ra quyết định số 3916/QĐ-BYT về Hướng dẫn thực hành vệ sinh tay trong các cơ sở khám, chữa bệnh (20). Nhiễm khuẩn vết mổ 1. Định nghĩa nhiễm khuẩn vết mổ Theo Trung Tâm Phòng Ngừa Bệnh Hoa Kỳ (CDC), NKVM là “những nhiễm khuẩn tại hoặc gần vết mổ, xuất hiện trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật đối với các phẫu thuật không cấy ghép và trong vòng 1 năm sau phẫu thuật với các phẫu thuật có cấy ghép “ [31]. Tiêu chuẩn lâm sàng định nghĩa NKVM bao gồm một trong các yếu tố sau: Có mủ chảy ra từ vết mổ.
Phân lập được vi khuẩn từ mẫu bệnh phẩm thu được của dịch hoặc mô từ vết mổ. Chẩn đoán của phẫu thuật viên hoặc bác sĩ lâm sàng. Vết mổ yêu cầu phải mổ lại 1. Nguyên nhân sinh bệnh 1.
Bệnh sinh Liên quan đến các yếu tố như: 6 + Số lượng vi khuẩn. + Độc lực vi khuẩn. + Sức đề kháng của vật chủ. Nguồn gốc + Vi khuẩn từ nguồn gốc nội sinh: thường cư trú ở lông, tuyến mồ hôi, tuyến bã nhờn.
Bình thường, trên da người có khoảng 13 loài vi khuẩn hiếu khí được phân bố khắp cơ thể và chúng có vai trò ngăn cản sự xâm nhập của một phần lớn vi sinh vật gây bệnh. Một số vi khuẩn nội sinh có thể trở thành nguyên nhân nhiễm trùng khi khả năng tự bảo vệ của vật chủ bị tổn thương. Vi sinh vật từ các cơ quan trong cơ thể như: đường hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu, tuần hoàn. hoặc các ổ nhiễm khuẩn kế cận vị trí phẫu thuật (ví dụ: abces ruột thừa.): không phát hiện được trước mổ hay không được điều trị triệt để.
+ Vi khuẩn từ nguồn gốc ngoại sinh: có nguồn gốc ngoại lai, có thể từ dụng cụ y tế, nhân viên y tế, không khí, nước hoặc lây nhiễm chéo giữa các bệnh nhân. Đường lây Tiếp xúc trực tiếp: Từ bàn tay của kíp mổ vào trực tiếp vết mổ ( rách, thủng găng tay, vệ sinh tay kém, viêm da tay) chiếm 30% Vi khuẩn từ các tạng rỗng qua bàn tay kíp mổ hoặc dụng cụ phẫu thuật xâm nhập vào vết mổ khi mổ. Vi khuẩn từ gòn, gạc, vật tư y tế (chỉ, dụng cụ thay thế, đinh, nẹp vít .), dụng cụ PT vào trực tiếp vết mổ. Tiếp xúc gián tiếp Nước bọt, nước mũi , bụi bẩn 7 Mảng da bong tróc, dị vật, chỉ.
Biện pháp dự phòng 1. Chuẩn bị bệnh nhân Theo các bác sĩ chuyên môn không nên cạo lông trước khi phẩu thuật trừ trường hợp lông, tóc xung quanh vị trí phẫu thuật làm cản trở phẫu thuật che khuất phẫu trường. Nhiều nghiên cứu cho thấy: cắt tóc, cạo lông ngay trước khi mổ thì nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ thấp hơn vệ sinh lông tóc vào đêm hôm trước khi phẫu thuật. Chúng ta nên sử dụng máy cạo bằng điện, hoặc kéo cắt để hạn chế làm tổn thương da.
Bệnh nhân cần tắm bằng xà phòng kháng khuẩn trước khi phẫu thuật (tuy nhiên hiện nay chưa được quan tâm ở nước ta) và rửa sạch da vùng PT và sát khuẩn da trước phẫu thuật theo vòng tròn đồng tâm và đi hướng ra ngoại biên. Vùng đã được rửa và sát khuẩn phải đủ rộng để kéo dài đường phẫu thuật hoặc tạo đường rạch mới hoặc đặt ống dẫn lưu khi cần thiết Nhân viên y tế nên động viện bệnh nhân kiêng hút thuốc 1 tháng trước khi phẫu thuật. Thời gian nằm viện trước PT càng ngắn càng tốt nhưng việc chuẩn bị BN trước PT cần thực hiện nghiêm túc. Bên cạnh đó, tăng cường dinh dưỡng trước PT cho bệnh nhân 1.
Trong phẫu thuật Nhóm phẫu thuật cần tuân thủ tuyệt đối các nguyên tắc vô khuẩn của phòng mổ, dụng cụ và đồ vải phẫu thuật bảo đảm tiệt khuẩn, phòng mổ cần phải được duy trì ở áp lực dương đối với vùng kế cận, hành lang. Ngoài ra, bệnh viện cần duy trì ít nhất 15 luồng khí thay đổi mỗi giờ, ba trong số những luồng không khí đó là không khí sạch và hạn chế tối thiểu số người di chuyển trong phòng mổ, cũng như cửa phòng mổ luôn đóng chỉ mở khi phải vận chuyển dụng cụ, bệnh nhân hay nhân viên. Săn sóc vết thương sau mổ 8 Bệnh nhân cần được bảo vệ vết mổ đã được băng bằng băng vô trùng trong 1- 2 ngày sau phẫu thuật. Các nhân viên y tế tuân thủ thực hiện rửa tay trước và sau khi tiếp xúc với vết mổ, đặc biệt khi thay băng hay thăm khám phải bảo đảm nguyên tắc vô trùng.
Bên cạnh đó, NVYT hướng dẫn người bệnh và thân nhân về cách chăm sóc vết mổ và nhận biết triệu chứng nhiễm khuẩn vết mổ và báo cáo với nhân viên y tế các triệu chứng này. Vệ sinh bàn tay 1. Các chủng vi khuẩn thường có trên da bàn tay nhân viên y tế Vi khuẩn định cư: khả năng gây nhiễm khuẩn rất ít xảy ra, trừ khi chúng xâm nhập vào cơ thể qua các thủ thuật xâm lấn khi thực hiện các thủ thuật – phẫu thuật. Vệ sinh bàn tay bằng xà phòng khử khuẩn hoặc cồn với đủ thời gian để loại bỏ các vi khuẩn này.
Vi khuẩn vãng lai: nhóm vi khuẩn này thường xuất hiện ở bàn tay nhân viên y tế khi bàn tay bị bẩn do tiếp xúc với bệnh nhân hoặc các đồ vật bẩn trong môi trường bệnh viện (chăn, ga trải giường, dụng cụ, trang thiết bị, phương tiện… phục vụ bệnh nhân), trong quá trình chăm sóc và điều trị. Vi khuẩn vãng lai bao gồm mọi vi sinh vật có mặt trong môi trường bệnh viện (vi khuẩn, vi rút, nấm, ký sinh trùng) và là nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn bệnh viện. Có thể loại bỏ hầu hết các vi khuẩn này bằng thực hiện vệ sinh tay thường quy với nước và xà phòng thường hoặc rửa tay bằng dung dịch rửa tay có chứa cồn (21). Tầm quan trọng của thực hành vệ sinh bàn tay và rửa tay ngoại khoa Theo Tổ chức Y tế thế giới, Vệ sinh tay có thể thực hiện bằng cách chà tay với dung dịch cồn hay rửa tay với xà phòng và nước.
Kỹ thuật thực hiện, cũng như sản phẩm sử dụng có tác dụng bảo vệ bàn tay khỏi những mầm bệnh gây hại và giúp an toàn trong chăm sóc bệnh nhân. Rửa tay được xem là 9 liều vắc xin tự chế, rất đơn giản, dễ thực hiện, hiệu quả về chi phí. Theo nhiều báo cáo của các chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn trong và ngoài nước thì rửa tay ngoại khoa đúng quy trình sẽ hạn chế được một phần trong nhiễm khuẩn vết mổ đã và đang diễn ra trong các bệnh viện, ví dụ như nhiễm trùng vết mổ, tăng hiệu quả hồi phục sau mổ, tránh những biến chứng liên quan đến nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn tự thân của bệnh nhân. Ngoài ra, rửa tay đúng cách sẽ giúp tránh được các nguy cơ gây bệnh cho chính các nhân viên y tế - người đang thực hiện các thủ thuật hay phẫu thuật (22).
Vệ sinh tay ngoại khoa Vệ sinh tay ngoại khoa (Surgical hand hygiene): Là rửa tay khử khuẩn hoặc chà tay khử khuẩn được kíp phẫu thuật thực hiện trước mọi phẫu thuật nhằm loại bỏ phổ vi khuẩn vãng lai và định cư trên tay (từ bàn tay tới khuỷu tay). (Theo hướng dẫn thực hành vệ sinh tay trong các cơ sở khám bệnh chữa bệnh, ban hành theo Quyết định số: 3916/QĐ-BYT ngày 28/8/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế) Chỉ định Trước khi tham gia phẫu thuật Bác sĩ phẫu thuật Bác sĩ phụ phẫu thuật Điều dưỡng trong vòng 1. Nội dung thực hiện vệ sinh tay ngoại khoa 1. Phương tiện a.
Phương tiện phòng hộ cá nhân: Quần áo trong khu phẫu thuật (quần áo sạch dành riêng cho khu phẫu thuật), mũ vải hoặc mũ giấy, khẩu trang ngoại khoa dùng 1 lần, ủng giấy hoặc dép dùng cho khu phẫu thuật được làm vệ sinh và khử khuẩn hằng ngày. Phương tiện VST ngoại khoa: - Phương tiện dùng cho phương pháp rửa tay bằng dung dịch khử khuẩn: + Bồn rửa tay ngoại khoa chuyên dụng. Vòi cấp nước tự động hoặc đạp chân; trong bồn không được có vết bẩn nhìn/sờ thấy được, quanh bồn không được để phương tiện, đồ vật khác.