Khảo Sát Hiện Trạng Về Hoạt Động Giám Sát Kê Đơn Ngoại Trú Tại Phòng Khám Đa Khoa Đại Phước

Chuyên khảo phân tích Luận văn khảo sát hiện trạng về hoạt động giám sát kê đơn ngoại trú tại phòng khám đa khoa đại, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

66
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình kê đơn thuốc và sử dụng thuốc

1.2. Quy chế kê đơn

1.3. Đối tượng áp dụng. Nguyên tắc kê đơn thuốc

1.4. Hình thức kê đơn thuốc

1.5. Yêu cầu chung với nội dung kê đơn thuốc. Những yêu cầu về kê đơn tốt

1.6. Các tiêu chí đánh giá việc kê đơn thuốc

1.7. Hoạt động dược lâm sàng tại Việt Nam

1.8. Điều kiện của dược sĩ dược lâm sàng

1.9. Điều kiện đảm bảo về nhân lực và cơ sở vật chất

1.10. Nhiệm vụ chung của dược sĩ dược lâm sàng

1.11. Các nhiệm vụ tại khoa lâm sàng

1.12. Mối quan hệ của dược sĩ lâm sàng và bác sĩ

1.13. Hậu quả của việc dùng thuốc không đúng chỉ định

1.14. Giới thiệu sơ lược về phòng khám đa khoa Đại Phước

1.14.1. Giới thiệu sơ lược

1.14.2. Nhiệm vụ của phòng khám đa khoa Đại Phước

1.14.3. Mô hình tổ chức

1.14.4. Chức năng, nhiệm vụ khoa dược

1.14.5. Hoạt động kê đơn tại phòng khám Đại Phước

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu. Thời gian và địa điểm. Cỡ mẫu và cách lấy mẫu

2.2. Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đặc điểm chung về bệnh nhân thăm khám

3.2. Giới tính, độ tuổi và nơi cư trú của bệnh nhân

3.3. Hình thức thăm khám

3.4. Các bệnh thường gặp ở các bệnh nhân

3.5. Thực hiện chỉ tiêu về hình thức kê đơn

3.6. Thực hiện quy định về ghi thông tin bệnh nhân

3.7. Thực hiện quy định về thông tin liên quan đến bác sĩ kê đơn

3.8. Thực hiện quy định về ghi thông tin thuốc

3.9. Tình hình kê đơn thuốc nói chung và kê đơn kháng sinh nói riêng

3.10. Phân loại các nhóm thuốc được sử dụng và số lượng thuốc trong đơn

3.11. Kê đơn kháng sinh tại phòng khám. Tương tác và trùng lặp thuốc

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1. Khảo sát các chỉ tiêu về giám sát kê đơn ngoại trú

4.2. Khảo sát và thống kê đơn thuốc, đặc biệt là đơn kháng sinh

4.3. Đánh giá các tương tác/trùng lặp thuốc tại phòng khám Đại Phước

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng Quan Hoạt Động Giám Sát Kê Đơn Ngoại Trú Hiện Nay

Thị trường thuốc ngày càng phong phú với nhiều dược chất và dạng bào chế mới, gây khó khăn cho thầy thuốc kê đơn. Điều này đòi hỏi sự tư vấn từ dược sĩ. Từ thập niên 70, ngành Y Dược Việt Nam đã có phong trào "Sử dụng thuốc hợp lý - an toàn". Đến cuối thập niên 80, Bộ Y tế thành lập nhóm nghiên cứu thực nghiệm tại bệnh viện Bạch Mai để tham vấn về sử dụng thuốc hợp lý. Nhu cầu dịch vụ y tế hiện đại tăng cao do nhiều yếu tố, đòi hỏi dịch vụ tốt hơn và tiện nghi hơn. Ngành Y tế nỗ lực cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu và tăng dịch vụ chuyên sâu ở tuyến dưới. Hiện có khoảng 800 phòng khám đa khoa, 10.700 trạm y tế cấp phường xã và 35.000 phòng khám tư nhân. Nhiều cơ sở y tế đã triển khai hoạt động dược lâm sàng, và Bộ Y tế ban hành văn bản hướng dẫn, đặc biệt là Thông tư 52/2017/TT-BYT, nhằm tăng cường kiểm tra, giám sát sử dụng thuốc hợp lý. Tuy nhiên, việc thực hiện chưa đồng bộ, đặc biệt ở các phòng khám.

1.1. Tình Hình Kê Đơn Thuốc và Vấn Đề Sử Dụng Thuốc

Thực trạng kê đơn và sử dụng thuốc ở Việt Nam cũng tương tự như các nước trên thế giới, đó là tình trạng lạm dụng kháng sinh, thuốc tiêm, vitamin, kê quá nhiều thuốc trong một đơn. Những bất cập này cần được khắc phục để hướng tới sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và kinh tế. Thuốc là "con dao hai lưỡi", có thể gây ra những phản ứng có hại. Vấn đề sử dụng ít thuốc trong một đơn không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề an toàn do tỷ lệ ADR và tương tác thuốc luôn tăng theo số lượng thuốc sử dụng. Việc kê đơn nhiều thuốc trong một đơn thuốc là nguyên nhân phổ biến dẫn đến tương tác thuốc. Theo nghiên cứu của WHO thì trên toàn thế giới có tới 50% bệnh nhân sử dụng thuốc không phù hợp.

1.2. Quy Định Về Kê Đơn Thuốc Theo Thông Tư 52 2017 TT BYT

Ngày 29/12/2017, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 52/2017/TT-BYT Quy định về đơn thuốc và việc kê đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Thông tư này áp dụng cho bác sĩ, y sĩ, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở bán lẻ thuốc, người bệnh và các tổ chức, cá nhân liên quan. Nguyên tắc kê đơn thuốc bao gồm: chỉ kê đơn sau khi có kết quả khám bệnh, chẩn đoán bệnh; kê đơn phù hợp với chẩn đoán bệnh và mức độ bệnh; đảm bảo an toàn, hợp lý và hiệu quả; ưu tiên kê đơn thuốc dạng đơn chất hoặc thuốc generic; và phù hợp với hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế.

II. Thách Thức Trong Giám Sát Kê Đơn Thuốc Ngoại Trú Hiện Nay

Mặc dù Thông tư 52/2017/TT-BYT đã được ban hành, việc tuân thủ vẫn chưa đồng bộ, đặc biệt ở các phòng khám tư nhân. Tình trạng lạm dụng kháng sinh, kê nhiều thuốc chưa hợp lý vẫn còn tồn tại. Đơn thuốc là căn cứ để dược sĩ cung cấp thuốc và là cơ sở để bệnh nhân sử dụng điều trị bệnh. Những sai sót trong kê đơn sẽ gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc cho bệnh nhân. Có tới 80 - 90% thầy thuốc nghĩ rằng mỗi triệu chứng ở bệnh nhân cần phải điều trị bằng một loại thuốc riêng biệt nên đã kê đơn nhiều loại thuốc. Đôi khi thầy thuốc kê đơn chịu áp lực của cả bệnh nhân lẫn gia đình họ muốn dùng nhiều thuốc để chóng khỏi bệnh.

2.1. Tình Trạng Lạm Dụng Kháng Sinh và Kê Đơn Nhiều Thuốc

Với những nước đang phát triển như Việt Nam, kháng sinh là một nhóm thuốc quan trọng vì bệnh lý nhiễm khuẩn nằm trong số những bệnh đứng hàng đầu cả về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong. Theo 1 khảo sát trong số 873 báo cáo về các ADR trong các nhóm thuốc được sử dụng tại một bênh viện thì số lượng ADR chiếm nhiều nhất vẫn là kháng sinh (449), đặc biệt là kháng sinh nhóm batalactam (25), sau đến nhóm hạ sốt giảm đau chống viêm (110), thuốc chống lao (99), thuốc thần kinh tâm thần (42), dịch truyền (33), thuốc tê - mê (16), corticoid và vitamin (11), thuốc giãn cơ (10), vaccin (9), thuốc đông y (27). Năm 2010, tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng số tiền thuốc đã sử dụng của nước ta chiếm 37,7%.

2.2. Sai Sót Trong Kê Đơn và Tuân Thủ Quy Chế Kê Đơn

Mặc dù Quy chế kê đơn của Bộ Y tế đã quy định việc ghi tên thuốc: kê tên hoạt chất hoặc ghi tên biệt dược kèm tên hoạt chất trong ngoặc đơn; ghi địa chỉ chính xác đến số nhà, đường phố hoặc thôn, xã… nhưng nhiều đơn thuốc được ghi không đúng mẫu quy định của Bộ Y tế. Theo nghiên cứu tại bệnh viện E, hoạt động kê đơn tại bệnh viện E năm 2009 còn nhiều sai sót. 88,67% số đơn không ghi đầy đủ tên, tuổi, chẩn đoán và ngày kê đơn, 22% đơn ghi không rõ liều dùng, cách dùng, 40% đơn không ghi thời gian dùng, 85,33% số đơn không ghi đầy đủ họ tên, chữ ký của bác sĩ và chỉ có 30,86% số thuốc được kê tên generic.

III. Phương Pháp Khảo Sát Giám Sát Kê Đơn Tại Đại Phước

Đề tài "Khảo sát hiện trạng về hoạt động giám sát kê đơn ngoại trú tại phòng khám đa khoa Đại Phước" được thực hiện nhằm bổ sung và hoàn thiện bức tranh về hoạt động giám sát kê đơn trong lĩnh vực dược lâm sàng ở các khối cơ sở khám chữa bệnh nói chung và khối phòng khám nói riêng. Mục tiêu là khảo sát các chỉ tiêu về giám sát kê đơn ngoại trú, khảo sát và thống kê các đơn thuốc, đặc biệt là đơn kháng sinh, ghi nhận và đánh giá các tương tác thuốc trong đơn thuốc. Kết quả sẽ giúp đưa ra một số kết luận về tình hình hoạt động giám sát kê đơn tại phòng khám Đại Phước, từ đó xây dựng một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hơn hoạt động này cũng như giúp quy trình sử dụng thuốc cho bệnh nhân hợp lý, an toàn, hiệu quả.

3.1. Đối Tượng và Phương Pháp Nghiên Cứu Cụ Thể

Đối tượng nghiên cứu là đơn thuốc ngoại trú (trừ đơn ghi bằng tay và khám ngoài giờ) tại phòng khám đa khoa Đại Phước từ 01/06/2018 đến 31/08/2018, thu được 26.075 đơn. Phương pháp nghiên cứu là khảo sát trực tiếp thông tin sẵn có trong đơn thuốc và cơ sở dữ liệu từ phòng khám. Tra cứu và ghi nhận các tương tác/trùng lặp thuốc bằng phần mềm Drugs. Tiến hành thống kê và xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Office Excel 2013 dưới dạng biến số.

3.2. Các Chỉ Tiêu Nghiên Cứu Trong Khảo Sát

Các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm: ghi thông tin bệnh nhân, ghi thông tin thuốc và các thông tin liên quan đến bác sĩ kê đơn. Khảo sát và thống kê các đơn thuốc, đặc biệt là đơn kháng sinh. Ghi nhận và đánh giá các tương tác thuốc trong đơn thuốc. Các chỉ tiêu này được thu thập và phân tích để đánh giá hiện trạng hoạt động giám sát kê đơn tại phòng khám.

IV. Kết Quả Khảo Sát Hoạt Động Giám Sát Kê Đơn Tại Đại Phước

Trong 26.075 đơn thuốc ngoại trú được khảo sát, việc tuân thủ quy chế kê đơn như ghi thông tin bệnh nhân, thông tin của bác sĩ kê đơn và thông tin thuốc tương đối tốt với hầu hết đều đạt tỷ lệ 100%. Số thuốc trung bình là 3 thuốc và rất ít các đơn thuốc có từ 10 thuốc trở lên (0,1%). Việc phát hiện các tương tác thuốc hay trùng lặp thuốc chỉ chiếm tỷ lệ dưới 15%. Hoạt động giám sát kê đơn tại đây thực hiện tương đối tốt từ khâu tiếp nhận đến cấp phát thuốc và hướng dẫn sử dụng thuốc cho bệnh nhân.

4.1. Đánh Giá Việc Tuân Thủ Quy Chế Kê Đơn

Kết quả cho thấy việc tuân thủ quy chế kê đơn tại phòng khám Đại Phước là tương đối tốt. Các thông tin quan trọng như thông tin bệnh nhân, thông tin bác sĩ kê đơn và thông tin thuốc đều được ghi đầy đủ trong hầu hết các đơn thuốc. Điều này cho thấy sự chú trọng của phòng khám trong việc đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của thông tin trong quá trình kê đơn.

4.2. Tình Hình Kê Đơn Thuốc và Tương Tác Thuốc

Số thuốc trung bình trong một đơn thuốc là 3, cho thấy xu hướng kê đơn hợp lý, tránh kê quá nhiều thuốc không cần thiết. Tỷ lệ đơn thuốc có từ 10 thuốc trở lên rất thấp (0,1%), cho thấy sự kiểm soát tốt trong việc kê đơn. Tỷ lệ phát hiện tương tác thuốc hay trùng lặp thuốc dưới 15%, cho thấy hiệu quả của việc kiểm tra và giám sát tương tác thuốc trong quá trình kê đơn.

4.3. Sử Dụng Thuốc Hợp Lý và Tuân Thủ Phác Đồ Điều Trị

Việc sử dụng thuốc, đặc biệt là các nhóm kháng sinh tuân theo tiêu chuẩn 5 đúng và phù hợp với phác đồ điều trị mà Bộ Y tế đưa ra. Tại phòng khám tiến hành sử dụng các phần mềm kê đơn và hướng dẫn bệnh nhân phân bố các lần dùng thuốc hoặc có các đề xuất thay thế biệt dược khác nhằm giảm bớt cá tương tác/trùng lặp thuốc.

V. Kết Luận và Kiến Nghị Về Giám Sát Kê Đơn Ngoại Trú

Hoạt động giám sát kê đơn tại phòng khám Đại Phước thực hiện tương đối tốt từ khâu tiếp nhận đến cấp phát thuốc và hướng dẫn sử dụng thuốc cho bệnh nhân. Việc sử dụng thuốc, đặc biệt là các nhóm kháng sinh tuân theo tiêu chuẩn 5 đúng và phù hợp với phác đồ điều trị mà Bộ Y tế đưa ra. Tại phòng khám tiến hành sử dụng các phần mềm kê đơn và hướng dẫn bệnh nhân phân bố các lần dùng thuốc hoặc có các đề xuất thay thế biệt dược khác nhằm giảm bớt cá tương tác/trùng lặp thuốc.

5.1. Tóm Tắt Kết Quả Khảo Sát Chính

Khảo sát cho thấy phòng khám Đại Phước tuân thủ tốt quy chế kê đơn, hạn chế kê quá nhiều thuốc và kiểm soát tương tác thuốc. Việc sử dụng kháng sinh tuân thủ tiêu chuẩn và phác đồ điều trị. Phòng khám sử dụng phần mềm kê đơn và hướng dẫn bệnh nhân sử dụng thuốc hợp lý.

5.2. Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giám Sát Kê Đơn

Để nâng cao hiệu quả giám sát kê đơn, cần tăng cường đào tạo cho bác sĩ và dược sĩ về sử dụng thuốc hợp lý, cập nhật phác đồ điều trị và sử dụng phần mềm kê đơn hiệu quả. Cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc kê đơn và sử dụng thuốc tại phòng khám. Cần tăng cường tư vấn cho bệnh nhân về sử dụng thuốc an toàn và hiệu quả.

05/06/2025
Luận văn khảo sát hiện trạng về hoạt động giám sát kê đơn ngoại trú tại phòng khám đa khoa đại phước tp hcm

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sự phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực sản xuất thuốc đã làm cho thị trường thuốc phong phú hơn về số lượng dược phẩm với sự ra đời nhiều dạng dược chất mới và đa dạng về các dạng bào chế. Với sự ra đời nhiều dạng bào chế mới khác hẳn các dạng kinh điển đã gây không ít lúng túng cho thầy thuốc kê đơn. Từ đó nảy sinh yêu cầu từ phía thầy thuốc cần sự có mặt các dược sĩ bên cạnh họ với vai trò tư vấn về thuốc. Từ những năm của thập niên 70, Dược lâm sàng giới Y - Dược Việt Nam đã có cuộc vận động “Sử dụng thuốc hợp lý - an toàn” ở hệ bệnh viện.

Đến cuối thập niên 80, vụ Dược (Bộ Y tế) đã thành lập một nhóm nghiên cứu thực nghiệm ở bệnh viện Bạch Mai do dược sĩ Phan Bá Hùng làm nhóm trưởng cùng một số bác sĩ và dược sĩ hoạt động với mục đích tham vấn về sử dụng thuốc hợp lý cho thầy thuốc kê đơn [3]. Nhu cầu dịch vụ y tế hiện đại tăng mạnh không chỉ do già hóa dân số, các bệnh không truyền nhiễm và tai nạn, mà còn do dân trí được cải thiện và điều kiện sống tốt hơn đòi hỏi dịch vụ y tế tốt hơn và tiện nghi hơn. Từ đó ngành Y tế đã nỗ lực cải thiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, tăng các dịch vụ chuyên sâu ở tuyến dưới. Vì vậy có sự ra đời khoảng 800 phòng khám đa khoa, 10.700 trạm y tế cấp phường xã, và 35.000 phòng khám tư nhân [6].

Trong nhiều cơ sở y tế hiện nay, tuỳ thuộc vào quy mô, nhân lực và trình độ cán bộ dược đã phần nào triển khai hoạt động dược lâm sàng. Đồng thời BYT đã ban hành những văn bản hướng dẫn thực hiện dược lâm sàng, đặc biệt là là Thông tư 52/2017/TT-BYT ngày 29/12/2017 về Quy định về đơn thuốc và việc kê đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú nhằm tăng cường kiểm tra, giám sát sử dụng thuốc hợp lý. Tuy nhiên việc thực hiện chỉ mới diễn ra ở quy mô bệnh viện mà chưa có sự đồng bộ và thống nhất trong các cơ sở khám chữa bệnh cả nước, đặc biệt là ở các phòng khám. Bên cạnh đó, tình hình kê đơn và sử dụng thuốc ở Việt Nam cũng đang đối mặt với một số khó khăn chung giống như các nước trên thế giới, đó là tình trạng lạm dụng kháng sinh, kê nhiều thuốc chưa hợp lý cho một đơn thuốc.

1 Vì vậy, đề tài “Khảo sát hiện trạng về hoạt động giám sát kê đơn ngoại trú tại phòng khám đa khoa Đại Phước” được thực hiện nhằm bổ sung và hoàn thiện bức tranh về hoạt động giám sát kê đơn trong lĩnh vực dược lâm sàng ở các khối cơ sở khám chữa bệnh nói chung và khối phòng khám nói riêng, với các mục tiêu như sau: 1. Khảo sát các chỉ tiêu về giám sát kê đơn ngoại trú: ghi thông tin bệnh nhân, ghi thông tin thuốc và các thông tin liên quan đến bác sĩ kê đơn 2. Khảo sát và thống kê các đơn thuốc, đặc biệt là đơn kháng sinh 3. Ghi nhận và đánh giá các tương tác thuốc trong đơn thuốc Kết quả của đề tài sẽ giúp đưa ra một số kết luận về tình hình hoạt động giám sát kê đơn tại phòng khám Đại Phước, từ đó xây dựng một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hơn hoạt động này cũng như giúp quy trình sử dụng thuốc cho bệnh nhân hợp lý, an toàn, hiệu quả.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình kê đơn thuốc và sử dụng thuốc Dân số toàn cầu tăng nhanh, điều kiện vật chất đầy đủ, tuổi thọ ngày càng tăng. Tuy nhiên do sinh hoạt ăn uống thiếu khoa học, môi trường ô nhiễm và an toàn về thực phẩm ngày càng bị đe dọa đã trở thành nguyên nhân chủ yếu làm tăng nhu cầu về thuốc men chăm sóc sức khỏe con người [12]. Thực trạng kê đơn và sử dụng thuốc ở Việt Nam cũng không nằm ngoài khuynh hướng chung của thế giới, đó là tình trạng lạm dụng kháng sinh, thuốc tiêm, vitamin, kê quá nhiều thuốc trong một đơn… Những bất cập này đã và đang tồn tại trong hệ thống y tế và cần có các biện pháp khắc phục cụ thể, kịp thời nhằm hướng tới sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và kinh tế [20].

Thuốc là “con dao hai lưỡi” vì bên cạnh lợi ích điều trị, cải thiện sức khỏe cho bệnh nhân thì kèm theo đó có thể gây ra những phản ứng có hại ở nhiều mức độ, thậm chí tử vong kể cả dùng đúng liều, đúng quy định, các phản ứng như vậy gọi là phản ứng bất lợi. Vấn đề sử dụng ít thuốc trong một đơn thuốc không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề an toàn do tỷ lệ ADR và tương tác thuốc luôn tăng theo số lượng thuốc sử dụng [2], [4], [21]. Việc kê đơn nhiều thuốc trong một đơn thuốc là nguyên nhân phổ biến dẫn đến tương tác thuốc [27]. Mặc dù bác sĩ kê đơn là nhằm mục đích chăm sóc điều trị bệnh nhân nhưng thực tế không có loại thuốc nào khi cho dùng lại không có rủi ro của nó.

Vì vậy việc sử dụng thuốc hợp lý an toàn đã và đang trở thành một vấn đề quan trọng không chỉ của Việt Nam mà còn mang tính toàn cầu. Theo nghiên cứu của WHO thì trên toàn thế giới có tới 50% bệnh nhân sử dụng thuốc không phù hợp [30]. Thách thức chủ yếu của công tác dược lâm sàng là làm sao giảm thiểu đến mức tối đa những tác dụng đối nghịch của thuốc. Theo báo cáo tại bệnh viện đa khoa khu vực huyện Ninh Hòa năm 2012 các thuốc sử dụng tại bệnh viện nằm trong 17 nhóm thuốc của danh mục thuốc bệnh viện năm 2012 như sau: nhóm chống ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn kinh phí sử dụng nhiều chiếm tỷ lệ 57,8%; nhóm thuốc tim mạch nhiều thứ hai chiếm tỷ lệ 12,4%; 3 nhóm thuốc tiêu hóa nhiều thứ ba chiếm tỷ lệ 6,1%; các nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm đứng thứ tư chiếm tỷ lệ 3,9%.

Các nhóm khác còn lại chiếm 19,7% và thấp nhất là nhóm thuốc chẩn đoán ít nhất chiếm tỷ lệ 0,2% [15]. Đơn thuốc là căn cứ để dược sĩ cung cấp thuốc và là cơ sở để bệnh nhân sử dụng điều trị bệnh. Những sai sót trong kê đơn sẽ gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc cho bệnh nhân. Có tới 80 - 90% thầy thuốc nghĩ rằng mỗi triệu chứng ở bệnh nhân cần phải điều trị bằng một loại thuốc riêng biệt nên đã kê đơn nhiều loại thuốc.

Đôi khi thầy thuốc kê đơn chịu áp lực của cả bệnh nhân lẫn gia đình họ muốn dùng nhiều thuốc để chóng khỏi bệnh [18]. Cũng như trong trường hợp sử dụng các nhóm thuốc kháng sinh, với những nước đang phát triển như Việt Nam, kháng sinh là một nhóm thuốc quan trọng vì bệnh lý nhiễm khuẩn nằm trong số những bệnh đứng hàng đầu cả về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong [10]. Theo 1 khảo sát trong số 873 báo cáo về các ADR trong các nhóm thuốc được sử dụng tại một bênh viện thì số lượng ADR chiếm nhiều nhất vẫn là kháng sinh (449), đặc biệt là kháng sinh nhóm batalactam (25), sau đến nhóm hạ sốt giảm đau chống viêm (110), thuốc chống lao (99), thuốc thần kinh tâm thần (42), dịch truyền (33), thuốc tê - mê (16), corticoid và vitamin (11), thuốc giãn cơ (10), vaccin (9), thuốc đông y (27) [17]. Năm 2010, tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng số tiền thuốc đã sử dụng của nước ta chiếm 37,7% [9].

Thống kê các báo cáo về tình hình sử dụng thuốc tại bệnh viện của Bộ Y tế cho thấy rằng kháng sinh chiếm khoảng 36% tổng chi phí mua thuốc, hóa chất [19]. Kê đơn vitamin, thuốc tiêm khi không cần thiết gây lãng phí cũng cần phải nói tới. Kê vitamin có thể đã thành thói quen của bác sĩ, hoặc đôi khi bệnh nhân đòi hỏi các bác sĩ kê đơn trong khi thực chất bệnh nhân không cần dung tới thuốc. Tại bệnh viện Nhi Thanh Hóa, số đơn kê vitamin chiếm tỷ lệ 42,8% [16].

Bên cạnh đó, mặc dù Quy chế kê đơn của Bộ Y tế đã quy định việc ghi tên thuốc: kê tên hoạt chất hoặc ghi tên biệt dược kèm tên hoạt chất trong ngoặc đơn; ghi địa chỉ chính xác đến số nhà, đường phố hoặc thôn, xã… [11], nhưng nhiều đơn thuốc 4 được ghi không đúng mẫu quy định của Bộ Y tế. Theo nghiên cứu tại bệnh viện E, hoạt động kê đơn tại bệnh viện E năm 2009 còn nhiều sai sót. 88,67% số đơn không ghi đầy đủ tên, tuổi, chẩn đoán và ngày kê đơn, 22% đơn ghi không rõ liều dùng, cách dùng, 40% đơn không ghi thời gian dùng, 85,33% số đơn không ghi đầy đủ họ tên, chữ ký của bác sĩ và chỉ có 30,86% số thuốc được kê tên generic. Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện Hữu Nghị cũng phản ánh tỷ lệ sai sót trong kê đơn thuốc ngoại trú đối với các thuốc thuộc diện quản lý đặc biệt là 80%, 53,3% ghi sai sót về số lượng thuốc, sai sót kê đơn quá ngày tối đa cho phép chiếm 57,7% [14].

Ghi đơn thuốc theo tên biệt dược, không ghi theo tên gốc, kê các thuốc đắt tiền, hoặc kê các thuốc được tiếp thị còn tồn tại trong một số bộ phận thầy thuốc. Năm 2012, chỉ có 24% số thuốc trong đơn kê tại bệnh viện Nhi Thanh Hóa được ghi bằng tên gốc [16]. Nghiên cứu tại bệnh xá Quân Dân y kết hợp Trường sỹ quan lục quân II năm 2013 thì tỷ lệ này là 39,9% [23]. Theo nghiên cứu ở bệnh viện đa khoa Vĩnh Phúc vào năm 2011 chỉ 8,5% số thuốc được ghi bằng tên gốc, còn lại hầu hết thuốc được kê bằng tên biệt dược [13].

Theo nghiên cứu tại Bệnh viện Nhân Dân 115 hoạt động kê đơn thuốc vẫn còn nhiều sai sót trước can thiệp như sai sót về tên thuốc chiếm 42%, sai sót về liều dùng 21%, đường dùng 26%, sai sót nồng độ, hàm lượng 50%. Quy chế kê đơn Ngày 29/12/2017, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 52/2017/TT-BYT Quy định về đơn thuốc và việc kê đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh với những nội dung như sau [11]: 1. Đối tượng áp dụng Bác sĩ có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và có đăng ký hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khảo Sát Hoạt Động Giám Sát Kê Đơn Ngoại Trú Tại Phòng Khám Đa Khoa Đại Phước" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình giám sát kê đơn cho bệnh nhân ngoại trú tại một phòng khám đa khoa. Tài liệu này không chỉ nêu rõ các phương pháp giám sát mà còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của quy trình này. Độc giả sẽ nhận được những thông tin hữu ích về cách cải thiện chất lượng dịch vụ y tế, từ đó nâng cao sự hài lòng của bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ các nhân tố tác động đến sự hài lòng của bệnh nhân ngoại trú đối với chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh đa khoa tỉnh tây ninh, nơi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân ngoại trú. Bên cạnh đó, tài liệu Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại công ty tnhh dược y tế alisa care cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm gia tăng sự hài lòng của bệnh nhân tại hệ thống bệnh viện saigon ito sẽ cung cấp những giải pháp cụ thể để cải thiện sự hài lòng của bệnh nhân. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho bạn trong việc tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực y tế.