ĐẶT VẤN ĐỀ Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã chỉ ra rằng, đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế cần phải lấy người bệnh (NB) làm trung tâm (1). Trong đó, trải nghiệm người bệnh (TNNB) là một thước đo quan trọng trong chăm sóc, lấy NB làm trung tâm và cần có sự kết hợp của 03 lĩnh vực: giao tiếp hiệu quả, tôn trọng phẩm giá và hỗ trợ cảm xúc (1). TNNB có liên kết tích cực và nhất quán đối với an toàn cho NB và hiệu quả lâm sàng (2, 3). Tại nhiều quốc gia, khảo sát TNNB nội trú tại bệnh viện đang dần được thay thế cho hoạt động khảo sát sự hài lòng vì những ưu điểm trong việc cung cấp thông tin cũng như dễ dàng đo lường hơn, từ đó giúp nhà quản lý bệnh viện đưa ra các quyết định quản trị nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ, đồng thời nâng cao kết quả điều trị lâm sàng và hiệu quả chi phí y tế (4).
Tại miền Nam Việt Nam, Sở Y tế (SYT) Thành phố Hồ Chí Minh (Tp. HCM) đã áp dụng khảo sát TNNB trong thời gian điều trị nội trú tại các bệnh viện trên địa bàn thành hoạt động thường quy hàng năm. Tính đến tháng 12 năm 2019, khảo sát đã được tiến hành tại 98 bệnh viện với 5. Khảo sát đã chỉ ra điểm trung bình TNNB là 8,40 đối với bệnh viện tuyến thành phố, bệnh viện quận huyện là 8,21 trong khi tại các bệnh viện ngoài công lập cao hơn là 8,76.
Bên cạnh đó, nhiều vấn đề ưu tiên chung được chỉ ra và cần xử lý như thời gian chờ thực hiện thủ tục nhập viện/ xuất viện, thời gian chờ bác sĩ khám bệnh, hoạt động hỗ trợ NB có hoàn cảnh khó khăn (5). Tuy nhiên các bệnh viện trên địa bàn thành phố Hà Nội và các tỉnh miền Bắc vẫn chưa thực sự quan tâm đến đo lường TNNB, có rất ít các nghiên cứu về TNNB được thực hiện lẻ tẻ tại một số bệnh viện miền Bắc như nghiên cứu TNNB của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2018, trải nghiệm chăm sóc sau mổ tại bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020 (6, 7). Trải qua hơn một thế kỷ hình thành và phát triển, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức là cơ sở Ngoại khoa Hạng Đặc biệt đầu tiên của cả nước, hàng ngày tiếp đón và tư vấn khám chữa bệnh (KCB) cho hàng ngàn lượt bệnh nhân (BN), chỉ riêng năm 2019 số lượng NB điều trị nội trú là 70. Trong đó, NB nội trú của Viện chấn 2 thương chỉnh hình (VCTCH hoặc sau đây gọi tắt là Viện) chiếm khoảng 40% tổng số BN nội trú của cả bệnh viện, mỗi ngày tiếp nhận khoảng 100 BN nội trú dẫn đến tình trạng quá tải và nhận được nhiều góp ý phàn nàn về thủ tục hành chính, thông tin hướng dẫn bệnh trạng không chi tiết (8).
Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu riêng nào tiến hành đánh giá TNNB về chất lượng dịch vụ đang triển khai tại VCTCH. Nhận thấy tính cấp thiết của việc triển khai nghiên cứu nhằm cung cấp thông tin, giúp xác định hướng cải thiện chất lượng dịch vụ, khẳng định danh tiếng, thu hút tăng số lượng cũng như mang lại những trải nghiệm tích cực cho NB tại Viện, học viên lựa chọn nghiên cứu đề tài “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến trải nghiệm của bệnh nhân nội trú tại Viện chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2021” với hai mục tiêu chính là mô tả trải nghiệm của người bệnh nội trú và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến TNNB tại VCTCH Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2021. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả trải nghiệm của người bệnh nội trú tại Viện Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2021.
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến trải nghiệm của người bệnh nội trú tại Viện Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2021. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm trải nghiệm người bệnh TNNB được The Beryl Institute định nghĩa “TNNB là tổng hợp của tất cả các tương tác giữa người bệnh và cơ sở y tế, được định hình bởi văn hóa của một tổ chức, ảnh hưởng đến sự nhận thức của người bệnh trong suốt quá trình điều trị” (9).
Cathal Doyle và cộng sự (2012) nhận định TNNB đã trở thành một chỉ số chất lượng quan trọng trong chăm sóc sức khỏe và có liên quan tích cực với sự an toàn của người bệnh và hiệu quả lâm sàng (3). Trong nghiên cứu, định nghĩa TNNB của tổ chức AHQR (Agency for Healthcare Research and Quality) sẽ được sử dụng, cụ thể: TNNB bao gồm phạm vi tương tác mà bệnh nhân có với hệ thống chăm sóc sức khoẻ, từ các bác sĩ, y tá và nhân viên trong bệnh viện, môi trường và các dịch vụ tiện ích trong bệnh viện (10, 11). Hiểu được TNNB là một bước quan trọng trong việc hướng tới lấy người bệnh làm trung tâm. Bằng cách xem xét TNNB trên nhiều khía cạnh, người ta có thể đánh giá được mức độ mà NB được đáp ứng các nhu cầu thể chất cũng như tinh thần trong quá trình sử dụng dịch vụ.
Đánh giá TNNB cùng với các thành phần khác như hiệu quả và an toàn của dịch vụ chăm sóc là điều cần thiết để cung cấp bức tranh toàn cảnh về chất lượng chăm sóc sức khỏe (10). Khái niệm người bệnh nội trú Luật khám chữa bệnh Việt Nam quy định: “NB là người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh” (12). Trong đó, “Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận. Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh” (12).
NB nội trú là người được thực hiện điều trị nội trú khi có chỉ định của người hành nghề thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc có giấy chuyển đến cơ sở khám bệnh, 5 chữa bệnh từ cơ sở khác (12). Khi đó, người bệnh phải tiến hành nhập viện để tiếp nhận điều trị (13). Đánh giá trải nghiệm người bệnh và tầm quan trọng Thực nghiệm từ Hoa Kỳ và các nước cho thấy rằng các bệnh viện và cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc cứu thương có điểm số hài lòng của người bệnh cao hơn cũng hoạt động tốt hơn trên các thước đo kết quả và quy trình lâm sàng. Quan trọng nhất, cải thiện TNNB sẽ xây dựng lòng tin vào hệ thống chăm sóc sức khỏe, đề phòng việc khấu trừ dịch vụ khi đối mặt với các biện pháp khuyến khích thay đổi của cơ sở y tế và thúc đẩy sự hợp tác giữa các bác sĩ lâm sàng và người bệnh.
Do đó, các thước đo TNNB đóng vai trò quan trọng trong cách chúng ta đánh giá dịch vụ chăm sóc chất lượng cao, dựa trên giá trị (14). Các chỉ số đo lường TNNB ngày càng trở nên quan trọng và là trọng tâm của các chương trình khuyến khích dựa trên giá trị của cả chính phủ và những người tự chi trả. Đồng thời việc thu hút người bệnh tham gia vào việc chăm sóc cũng dẫn đến kết quả lâm sàng tốt hơn. Sự tham gia của người bệnh và cộng đồng sẽ tiếp tục là những chiến lược đòn bẩy cao khi chúng ta tiếp tục phát triển trong kỷ nguyên sức khỏe dân số.
Đảm bảo TNNB tích cực có nghĩa là trang bị cho mọi người kỹ năng, kiến thức và sự tự tin để tham gia với tư cách là đối tác được cung cấp thông tin đầy đủ trong việc chăm sóc của chính họ và điều này dẫn đến kết quả sức khỏe tốt hơn và chi phí chăm sóc thấp hơn (15). Katherine Browne và cộng sự (2010) đã nghiên cứu đo lường TNNB như một chiến lược để cải thiện chăm sóc ban đầu cho thấy người bệnh coi trọng các khía cạnh giữa các nhu cầu cá nhân trong trải nghiệm chăm sóc sức khỏe của họ. Đồng thời việc sử dụng thông tin trải nghiệm người bệnh là một chiến lược quan trọng để chuyển đổi các phương pháp thực hành cũng như thúc đẩy chuyển đổi hệ thống tổng thể (16). Hiện nay, tại Việt Nam, đánh giá TNNB được khuyến cáo cần được thực hiện một cách khách quan, trung thực tại tất cả các khoa, phòng.
Ngoài ra việc khảo sát cần được thực hiện với tần xuất cao và liên tục, có cơ chế, chế độ khen thưởng cũng như xử lý rõ ràng đối với các nhân viên y tế, khoa, phòng tác động đến TNNB (5). Một số phương pháp và công cụ đo lường TNNB 6 Hiện nay, ở trên thế giới có rất nhiều bộ công cụ đo lường TNNB: 1. Đánh giá của người sử dụng dịch vụ đối với các cơ sở y tế và hệ thống chăm sóc sức khỏe (Consumer Assessment of Healthcare Providers and Systeams – CAHPS) CAHPS được xây dựng năm 1998 bởi Trung tâm dịch vụ Medicare và trợ cấp y tế (CMS), với mục đích tìm hiểu TNNB tại cơ sở y tế, bộ công cụ bao gồm 27 tiểu mục theo 7 lĩnh vực: chăm sóc của điều dưỡng, chăm sóc của bác sĩ, môi trường bệnh viện, TNNB trong bệnh viện, xuất viện, đánh giá tổng thể về bệnh viện, thông tin chung của người bệnh trên thang đo tần xuất 4 mức độ từ “không bao giờ” đến “luôn luôn”. Bộ công cụ này được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá có độ tin cậy nhất quán và tính giá trị tốt.
Đây là bộ công cụ phổ biến nhất được sử dụng để đo lường TNNB (17-19). Tuy nhiên, điểm hạn chế là có nhiều yếu tố phức tạp bao hàm nhiều thông tin gây khó hiểu đối với người tham gia khảo sát (20). Một số cuộc khảo sát của CAHPS hỏi về TNNB với các nhà cung cấp, chẳng hạn như y tế, nhóm, địa điểm thực hành và trung tâm phẫu thuật, hoặc với việc chăm sóc các tình trạng sức khỏe cụ thể. Cuối cùng, một số cuộc khảo sát hỏi về kinh nghiệm chăm sóc tại các cơ sở y tế như bệnh viện, trung tâm lọc máu và viện dưỡng lão (21).
Tại Việt Nam, Nguyễn Thị Huyền Trâm đã sử dụng bộ câu hỏi để đo lường TNNB tại Bệnh viện Đại học Y năm 2018 (6).Công cụ trải nghiệm của người bệnh điều trị nội trú (In-Patient Experiences of Health care -I-PAHC) I-PAHC là bảng câu hỏi ngắn gọn để đánh giá trải nghiệm chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân ở những nơi có thu nhập thấp được xây dựng năm 2011 bởi Tashonna R.