Chương 1: Tổng quan đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Hàm ý chính sách và kết luận 123doc 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 giới thiệu các khái niệm về an toàn bệnh nhân, văn hóa an toàn bệnh nhân, lược khảo một số nghiên cứu về khảo sát văn hóa an toàn bệnh nhân, một số tổn thất do sai sót y khoa gây ra tác động đến kinh tế gia đình và xã hội. Khái niệm an toàn bệnh nhân An toàn bệnh nhân (Patient safety): Theo tổ chức y tế thế giới WHO (World Health Organization) là sự phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy hại cho bệnh nhân trong quá trình điều trị và chăm sóc. Theo Tổ chức nghiên cứu y tế và chất lượng AHRQ (Agency for Healthcare Research and Quality ): an toàn bệnh nhân là một chuyên ngành trong lĩnh vực y tế, áp dụng các phương pháp an toàn nhằm hướng đến mục đích xây dựng một hệ thống cung ứng dịch vụ y tế đáng tin cậy. An toàn bệnh nhân còn là một thuộc tính của ngành y tế, nó tối thiểu hóa các sự cố và tối đa hóa sự phục hồi từ các sự cố.
Hệ thống chăm sóc y tế cần phải có khả năng giảm thiểu tỉ lệ mắc sai sót và tác động của tác dụng phụ , cũng như tăng tối đa phục hồi cho bệnh nhân. Theo Tổ chức y tế thế giới ( WHO ) hệ thống là một thuật ngữ rộng được dùng để miêu tả bất kỳ tập hợp nào gồm hai hoặc nhiều thành phần tương tác với nhau, hoặc một nhóm sự vật, thành phần độc lập tạo thành một thể thống nhất. Hoạt động cung ứng sức khỏe là một hệ thống phức tạp gồm nhiều bộ phận tương tác với nhau, trong đó có con người ( bệnh nhân và y Bác sĩ, cán bộ công nhân viên.) cơ sở hạ tầng, công nghệ, hóa chất trị liệu. Mọi cán bộ y tế đều cần có hiểu biết về tính phức tạp của hệ thống y tế để phòng ngừa biến cố bất lợi xảy ra.
Nếu không thì chỉ có xu hướng đỗ lỗi cho những cá nhân tham gia trực tiếp vào quá trình chăm sóc sức khỏe mà không nhận ra rằng luôn có những yếu tố khác góp phần gây nên sai sót đó. 123doc 6 Theo cách tiếp cận truyền thống khi xảy ra sai sót là đỗ lỗi cho nhân viên y tế liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe , thường là nhân viên cấp dưới. Dù người bị truy trách nhiệm đó có vai trò gì trong quá trình dẫn đến sai sót , nhưng rất ít khả năng đó là hành động cố ý. Theo quan điểm mới, tiếp cận vấn đề từ quan điểm hệ thống, cách tiếp cận này cho phép chúng ta xem xét hệ thống vận hành của bệnh viện như thế nào dẫn đến sai sót chẳng hạn như ( quy trình kém, thiết kế kém, hoạt động nhóm kém, hạn chế kinh phí và các yếu tố thể chế ) chứ không chỉ tập trung vào những người tham gia vào quá trình chăm sóc sức khỏe hoặc truy trách nhiệm cho những hoạt động đó.
Cách tiếp cận này cũng giúp chúng ta bỏ thói quen đỗ lỗi để hướng tới nhận thức và nâng cao tính minh bạch của các quy trình chăm sóc thay vì chỉ chú ý tới hành động chăm sóc. Cách tiếp cận mới theo các chuyên gia về an toàn cho rằng khi sự cố xảy ra phải tiếp cận hệ thống, tìm ra những lỗi tìm ẩn trong hệ thống đó, thay đổi hệ thống. Tiếp cận hệ thống sai sót trong chăm sóc y tế đòi hỏi phải nhận thức được nhiều yếu tố liên quan đến từng lĩnh vực cấu thành hệ thống y tế. Nhân viên y tế là một phần của hệ thống.
Mục đích của cách tiếp cận hệ thống để điều tra sự cố , nhằm cải thiện thiết kế hệ thống, ngăn chặn không để sai sót tương tự xảy ra trong tương lai hoặc giảm thiểu hậu quả của sai sót. Các yếu tố cần xem xét theo Reason: Yếu tố liên quan đến bệnh nhân và thầy thuốc, yếu tố liên quan đến nhiệm vụ, công nghệ, môi trường và tổ chức. Mô hình pho mát Thụy sĩ. Mô hình chăm sóc sức khỏe của Reason để giải thích cách thức lỗi ở các lớp khác nhau trong hệ thống dẫn đến sự cố.
Mô hình đó cho thấy lỗi ở một tầng của hệ thống y tế thường chưa đủ để gây tai nạn. Biến cố bất lợi thường xảy ra khi có một số lỗi xảy ra ở nhiều tầng của hệ thống như ( nhân viên mệt mỏi, thiếu nhân viên, thủ tục không đầy đủ, trang thiết bị trục trặc…) kết hợp lại cho phép tạo đường dẫn cho cơ hội xảy ra tai nạn (WHO, 2011) 123doc 7 Bảng 2.1: Phòng ngừa, rào cản và bảo vệ Nguồn: ( WHO, 2011) 2. Sự cố trong y khoa Các loại sai sót thường xảy ra trong y tế theo mô hình chăm sóc sức khỏe của Reason. Lỗi hay sai sót là “tất cả những trường hợp trong đó một chuỗi các hoạt động tinh thần hay thể chất được hoạch định không đạt được kết quả như đã định” (Reason 1990).
Lỗi gồm có : Lỗi phán đoán Lỗi thực hiện Lỗi bỏ sót Lỗi phạm qui Lỗi hoạt động Lỗi tiềm ẩn. Lỗi (Error): Thực hiện công việc không đúng quy định hoặc áp dụng các quy định không phù hợp Sự cố (Event): Điều bất trắc xảy ra với người bệnh hoặc liên quan tới người bệnh. 123doc 8 Sự cố không mong muốn (Adverse Events ) : Sự cố không mong muốn là tác hại liên quan đến quản lý y tế bao gồm các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị, chăm sóc, sử dụng trang thiết bị y tế để cung cấp dịch vụ y tế. Sự cố y khoa có thể phòng ngừa và không thể phòng ngừa ( Bộ Y tế, 2014) Sự cố y khoa hay sự kiện bất lợi (adverse event) được hiểu như tổn thương tổn không chủ ý hoặc biến chứng mà kết quả đưa đến tử vong, tàn tật hoặc kéo dài thời gian nằm viện gây ra bởi quản lý chăm sóc sức khỏe.
Nguyên nhân lỗi trong chăm sóc sức khỏe Nguyên nhân lỗi trong chăm sóc sức khỏe theo (Tomlin, 1982) Các yếu tố do con người: Không thừa nhận mức độ và tỉ lệ trong sai sót y khoa Do đào tạo kém, thiếu kinh nghiệm trong công việc Quá tải và kiệt sức trong công việc Áp lực về thời gian trong công việc Tính phức tạp của y tế: Thời gian nằm viện kéo dài, bệnh nhân chăm sóc đặc biệt Do sự phức tạp của các kỹ thuật y tế Lỗi do hệ thống: Đường dây không rõ ràng thẩm quyền giữa Bác sĩ, y tá và các bộ phận khác Tên thuốc gần giống nhau hay có phát âm tương tự như nhau Sự phụ thuộc vào các hệ thống tự động để ngăn ngừa lỗi Hệ thống không đủ để chia sẻ thông tin về sai sót y khoa xảy ra Cắt giảm chi phí quá mức Cơ sở hạ tầng yếu Tần suất và cường độ bệnh nhân ảnh hưởng bởi sai sót y khoa đã không được quan tâm đúng mức cho đến những năm 1990, khi nhiều quốc gia báo cáo con 123doc 9 số đáng kinh ngạc số bệnh nhân bị tổn hại và tử vong bởi sai sót y khoa. Khi đó người ta mới nhận thấy được rằng cứ 10 bệnh nhân vào bệnh viện thì có một người bị sai sót y khoa gây ra. Tháng 4 năm 1982 tại Hoa Kỳ, các chuyên gia y tế gây mê đã bị sốc trong chương trình truyền hình ABC 20/20 có tên The Deep Sleep. Báo cáo cho thấy rằng có khoảng 6.000 người Mỹ chết hoặc bị não thiệt hại liên quan đến những rủi ro do sai sót y khoa hàng năm (Tomlin, 1982).
Năm 1983, the British Royal Society of Medicine và Harvard Medical tiến hành đồng tài trợ một hội nghị với chuyên đề về gây mê tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tổn thương và tử vong của bệnh nhân và họ đã đi đến một thỏa thuận chia sẻ thống kê và có những bước tiến hành nghiên cứu sau đó. Năm 1984, Hiệp hội Bác sĩ gây mê Mỹ (ASA) đã thành lập quỹ gây mê an toàn cho bệnh nhân (APSF). APSF đánh dấu lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ " An toàn bệnh nhân " trong tên của tổ chức y tế chuyên sâu. Mặc dù gây mê chỉ chiếm khoảng 5% các bác sĩ ở Hoa Kỳ, nhưng gây mê đã trở thành chuyên khoa hàng đầu trong giải quyết các vấn đề về an toàn bệnh nhân.
Vào đầu những năm 1960, các nghiên cứu đã đánh giá các phản ứng bất lợi của bệnh nhân và đã nhấn mạnh sự cần thiết cho việc chăm sóc sức khỏe và có biện pháp cẩn thận với thủ thuật y học mới ( Das, 2003). Nghiên cứu của Brennan et al vào năm 1991 phát hiện các tác dụng phụ trong 3.000 hồ sơ bệnh viện ở New York trong suốt một năm, với 27.6% của những sự kiện này do chăm sóc kém chất lượng hoặc do sơ suất từ quản lý y tế (Brennan, 2004) .5% tác dụng phụ này dẫn đến thương tật kéo dài đến sáu tháng, và 2.6% gây ra chấn thương vĩnh viễn. Một nghiên cứu của Leape et al vào năm 1993 nhận thấy hơn hai phần ba tác dụng phụ có thể ngăn chặn được và đều chủ yếu vì lỗi quản lý (Weingart, 2000). Họ kết luận khá nhiều lỗi sai sót này là kết quả của độ phức tạp chăm sóc sức khoẻ, thiết bị y tế không đảm bảo chất lượng và các thủ tục.
Sai sót y khoa đã tìm thấy ở nhiều quốc gia khác trên thế giới. Nghiên cứu ở Úc cho thấy 18.000 người tử vong và hơn 50.000 bệnh nhân tàn tật do sai sót y khoa gây ra trong một năm. Năm 2000 báo cáo của Bộ Y tế Anh ước tính tác 123doc 10 dụng phụ xảy ra trong khoảng 10% trường hợp nhập viện , 850.000 sự kiện bất lợi một năm. Ở Anh, khoảng 10% bệnh nhân nhập viện chịu thiệt hại tác dụng phụ mỗi năm (Health, 2000).
Nghiên cứu của Canada ước tính tỉ lệ sai sót y khoa đến 7.5%, ước tính từ 9.000 bệnh nhân tử vong mỗi năm, mà trong số này có thể phòng tránh được. Một nghiên cứu khác ở bệnh viện Canada cho thấy tỉ lệ sai sót y khoa 12,7% và hơn một phần ba trong số này là có thể phòng ngừa được. Năm 1995, tổ chức nghiên cứu chất lượng chăm sóc sức khỏe của Úc QAHCS (The Quality in Australian Health Care) công bố cho thấy tần suất sai sót y khoa là 16.