Chương 1 TỔNG QUAN 1. Thực trạng quản lý chất lượng an toàn người bệnh. An toàn người bệnh và sự cố y khoa. An toàn người bệnh.
Khái niệm an toàn người bệnh được nhiều tài liệu y khoa đề cập đến với những cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau, một số khái niệm được sử dụng phổ biến. An toàn người bệnh được hiểu là sự bảo đảm cho người bệnh không bị tổn thương thêm trong suốt thời gian điều trị tại bệnh viện [15], hoặc tránh hoặc giảm thiểu được mức độ nguy cơ tiềm ẩn và kết quả không mong muốn trong quá trình người bệnh điều trị tại bệnh viện [2], hoặc làm giảm hết mức có thể nguy cơ gây tổn hại không cần thiết liên quan đến chăm sóc y tế [16]. Sự cố y khoa. Để đảm bảo chất lượng an toàn người bệnh thì phải giảm sự cố y khoa và ngược lại, 2 vấn đề này có liên quan hữu cơ với nhau, chính vì vậy cần hiểu rõ về sự cố y khoa.
Trong y văn đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để mô tả những rủi ro trong thực hành y khoa như bệnh do thầy thuốc gây nên, sai sót y khoa, tai biến y khoa, sự cố y khoa … Hiện nay thuật ngữ sự cố y khoa được sử dụng ngày càng phổ biến. Sự cố y khoa là: Điều bất trắc xảy ra với người bệnh hoặc liên quan tới người bệnh [4],[11]. Khái niệm sự cố y khoa không mong muốn: Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) sự cố không mong muốn là tác hại liên quan đến quản lý y tế (khác với biến chứng do bệnh) bao gồm các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị, chăm sóc, sử dụng trang thiết bị y tế để cung cấp dịch vụ y tế [4],[11]. Phân loại sự cố y khoa.
Với những khái niệm về sự cố y khoa được nêu ở trên thì tùy theo mục đích sử dụng mà có các cách phân loại sự cố y khoa khác nhau. Các cách phân loại hiện đang sử dụng, bao gồm: + Phân loại theo tính chất chuyên môn, bao gồm: Sự cố y khoa do nhầm tên người bệnh, thông tin bàn giao của nhân viên y tế không đầy đủ, sai sót dùng thuốc, nhầm lẫn liên quan đến phẫu thuật, nhiễm khuẩn bệnh viện, người bệnh bị té ngã trong khi đang điều trị tại các cơ sở y tế [11], [17]. + Phân loại theo lỗi cá nhân và hệ thống: Về lý thuyết cũng như thực tiễn đã chỉ ra rằng trong y tế các quy trình chuyên môn, các hoạt động của thầy thuốc như khám bệnh, điều trị…. kể cả các hoạt động hành chính đều có thể gây rủi ro trực tiếp hoặc gián tiếp trên người bệnh [11].
- Các lỗi do cá nhân người hành nghề: Theo một số nghiên cứu chỉ có 30% lỗi là do cá nhân người hành nghề [11]. - Các lỗi do hệ thống: Liên quan tới các sự cố y khoa có thể là các chính sách không phù hợp, các quy định chưa lấy người bệnh làm trung tâm, thiếu nhân lực, thiếu phương tiện phục vụ người bệnh [11]. + Phân loại theo các yếu tố liên quan, gồm 4 yếu tố sau: - Yếu tố người hành nghề: Bao gồm sự cố không chủ định như do thói quen công việc, dựa vào trí nhớ của thầy thuốc, do kiến thức kinh nghiệm của người hành nghề, sự cố do cố ý như cắt xén hoặc làm tắt quy trình chuyên môn, vi phạm đạo đức nghề nghiệp [11]. - Yếu tố chuyên môn: Y học mang tính xác suất và bất định cao.
Người bệnh thường phải trải qua nhiều can thiệp phẫu thuật, thủ thuật, được đưa thuốc, hóa chất vào cơ thể nên dễ gây phản ứng dẫn đến sự cố bất khả kháng. - Yếu tố môi trường chăm sóc y tế: Môi trường chăm sóc y tế có nhiều áp lực do quá tải, làm ca kíp trái với sinh lý bình thường, nơi làm việc chật 6 chội, nhiều tiếng ồn, bệnh viện phải làm việc với cường độ cao, áp lực tâm lý luôn căng thẳng [18], [19], [20]. - Yếu tố chính sách, quản lý và điều hành: Một số chính sách quản lý điều hành còn bất cập tác động tới sự an toàn của người bệnh như quy định cho thuốc 2-3 ngày/01 lần (vào các ngày nghỉ), vấn đề chuyển tuyến chưa phù hợp dẫn đến tình trạng giữ bệnh nhân, chuyển muộn. Tổ chức cung cấp dịch vụ chưa thực sự hợp lý như hoạt động bệnh viện tập trung nhiều vào buổi sáng, ca kíp kéo dài 24giờ/01 ngày, nhân lực trực đêm và ngày nghỉ chưa thực hiện được nguyên tắc “Bệnh viện hoạt động 24 giờ/ngày và 7 ngày/1 tuần”.
+ Phân loại sự cố y khoa theo mức độ nguy hại đối với người bệnh: - Sự cố không nguy hại cho người bệnh [11]: Đó là sự cố đã xảy ra nhưng chưa thực hiện trên người bệnh hoặc sự cố đã xảy ra trên người bệnh nhưng không gây hại hoặc chỉ đòi hỏi phải theo dõi. - Sự cố nguy hại cho người bệnh gồm: Sự cố xảy ra trên người bệnh gây tổn hại sức khỏe tạm thời đòi hỏi can thiệp chuyên môn hoặc sự cố xảy ra trên người bệnh ảnh hưởng tới sức khỏe hoặc kéo dài ngày nằm viện, sự cố xảy ra dẫn đến tàn tật vĩnh viễn, hoặc gây tử vong. + Phân loại sự cố y khoa mà cơ sở y tế phải báo cáo (đó là các sự cố y khoa nghiêm trọng). Sự cố do phẫu thuật, thủ thuật: Phẫu thuật, thủ thuật nhầm vị trí trên người bệnh; phẫu thuật, thủ thuật nhầm người bệnh; phẫu thuật, thủ thuật sai phương pháp trên người bệnh; sót gạc dụng cụ: panh, kéo.; tử vong trong hoặc ngay sau khi phẫu thuật, thủ thuật thường quy [6], [11], [21].
Sự cố do môi trường: Bị shock do điện giật, bị bỏng trong khi điều trị tại bệnh viện, cháy nổ ôxy, bình ga, hóa chất độc hại… Sự cố liên quan tới chăm sóc: Do dùng nhầm thuốc; truyền nhầm nhóm máu/ sản phẩm của máu; người bệnh bị ngã trong thời gian nằm viện; loét do tỳ đè trong khi nằm viện; thụ tinh nhân tạo nhầm tinh trùng hoặc nhầm trứng; 7 không chỉ định xét nghiệm dẫn đến xử lý không kịp thời; hạ đường huyết; vàng da ở trẻ trong 28 ngày đầu; tai biến do tiêm/chọc dò tủy sống. Sự cố liên quan tới quản lý người bệnh: Giao nhầm trẻ sơ sinh lúc xuất viện, người bệnh gặp sự cố y khoa ở ngoài cơ sở y tế, người bệnh chết do tự tử, tự sát hoặc tự gây hại. Sự cố liên quan tới thuốc và thiết bị: Sử dụng thuốc bị nhiễm khuẩn, thiết bị và chất sinh học; sử dụng các thiết bị hỏng/thiếu chính xác trong điều trị và chăm sóc; đặt thiết bị gây tắc mạch do không khí. Sự cố liên quan tới tội phạm: Do thầy thuốc, nhân viên y tế chủ định gây sai phạm; bắt cóc người bệnh; lạm dụng tình dục đối với người bệnh trong cơ sở y tế.
Hậu quả của sự cố y khoa Tùy thuộc vào tính chất của sự cố y khoa mà khi sự cố y khoa xảy ra sẽ để lại những hậu quả ở các mức độ khác nhau, như làm tăng gánh nặng bệnh tật thậm chí có thể gây tử vong, tăng ngày nằm viện trung bình, tăng chi phí điều trị, làm giảm chất lượng chăm sóc y tế và ảnh hưởng đến uy tín, niềm tin đối với nhân viên y tế và cơ sở cung cấp dịch vụ [11]. Tại Mỹ (Utah- Colorado): Các sự cố y khoa không mong muốn đã làm tăng chi phí bình quân cho việc giải quyết sự cố cho một người bệnh là 2.262 Dollar và tăng 1,9 ngày điều trị/người bệnh [4].000 người bệnh nhập viện gặp sự cố y khoa, tăng 8% ngày điều trị (thêm 3,3 triệu ngày điều trị) do sự cố y khoa, 18.000 trường hợp tử vong, 17.000 trường hợp tàn tật vĩnh viễn và 280.000 người bệnh mất khả năng tạm thời [4], [22], [23]. Tại Anh chi phí cho điều trị nhiễm khuẩn bệnh viện lên tới 01 tỷ Bảng Anh hàng năm. Con số kiện tụng lên tới 38.000 trường hợp đối với lĩnh vực chăm sóc y tế gia đình và 28.000 đơn kiện đối với lĩnh vực bệnh viện [24].
8 Tại Nhật Bản, theo số liệu của tòa án, bình quân mỗi ngày người dân kiện và đưa bệnh viện ra tòa từ 2-3 vụ. Thời gian giải quyết các sự cố y khoa tại Nhật Bản trung bình 02 năm/vụ khiếu kiện [11]. Quản lý chất lượng an toàn người bệnh. Chất lượng bệnh viện và chất lượng an toàn người bệnh.
Chất lượng bệnh viện là toàn bộ các khía cạnh liên quan đến người bệnh, người nhà người bệnh, nhân viên y tế, năng lực thực hiện chuyên môn kỹ thuật; các yếu tố đầu vào, yếu tố hoạt động và kết quả đầu ra của hoạt động khám, chữa bệnh. Một số khía cạnh chất lượng bệnh viện là khả năng tiếp cận dịch vụ, sự hài lòng của NB, người bệnh là trung tâm. đặc biệt là đảm bảo chất lượng an toàn người bệnh, hướng về nhân viên y tế, trình độ chuyên môn, kịp thời, tiện nghi, công bằng, hiệu quả [25], [26], [27], [28], [29]. Trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa thì chất lượng sản phẩm, hàng hóa là mức độ của các đặc tính của sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn, quy chuẩn tương ứng [30].
Còn chất lượng trong y tế phản ánh mức độ mà một dịch vụ chăm sóc y tế hoặc sản phẩm đạt một kết quả mong muốn [2]. Theo ISO 9000:2007 [31] từ định nghĩa thuật ngữ chất lượng cho thấy đặc điểm của chất lượng nói chung và chất lượng bệnh viện nói riêng đều có đặc điểm sau: - Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. - Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng.
9 - Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể. Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan. - Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các qui định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong chúng trong quá trình sử dụng.