Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xã hội học (mã số: 62.01) của tác giả Nguyễn Thị Hoài An với đề tài "Năng lực y tế cơ sở trong việc đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân tỉnh Thanh Hóa (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa)" được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Thị Quý và TS. Mai Thị Kim Thanh.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII và Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 22/01/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã xác định củng cố y tế cơ sở là nhiệm vụ cấp bách; y tế cơ sở là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, giữ vai trò nền tảng và xương sống của hệ thống y tế nhằm bảo đảm cho mọi người dân được chăm sóc sức khỏe cơ bản với chi phí thấp. Trên phạm vi cả nước, mạng lưới y tế cơ sở đã bao phủ rộng khắp với 99% xã/phường/thị trấn có trạm y tế, 78% trạm y tế có bác sĩ, 78% thôn bản có nhân viên y tế hoạt động và khoảng 50-60% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.

Tuy nhiên, tuyến y tế cơ sở đang đối mặt với nhiều bất cập lớn: mô hình bệnh tật thay đổi, dịch bệnh mới phát sinh, chất lượng chuyên môn tuyến xã còn hạn chế (khảo sát tại vùng miền núi cho thấy chỉ 17,3% bác sĩ và y tá có kỹ năng sơ cứu, 17% nhận biết dấu hiệu nguy hiểm thai kỳ, 50,5% chẩn đoán được tăng huyết áp và 15,6% biết cách xử lý ổ dịch). Hiện tượng thiếu hụt bác sĩ tại tuyến huyện và tuyến xã diễn ra phổ biến; tỷ lệ nghỉ hưu và chuyển tuyến chiếm tới 50% số cán bộ mới ở huyện và 30% ở xã.

Tại tỉnh Thanh Hóa, địa bàn huyện Hà Trung có 25 xã nhưng giai đoạn 2014-2015 chỉ có 19 xã có bác sĩ, 4 xã có nhà hai tầng, 7 xã có máy siêu âm; trong tổng số 1.703 phụ nữ sinh con chỉ có 354 trường hợp sinh tại trạm y tế và tình trạng nằm ghép giường bệnh tại bệnh viện huyện vẫn diễn ra. Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả xác định là việc phân tích năng lực y tế cơ sở dưới góc độ một thiết chế/cấu trúc xã hội trong mối quan hệ tương tác với nhu cầu khám chữa bệnh thực tế của người dân nông thôn, nhằm lý giải căn nguyên những hạn chế về mặt vận hành, thể chế và nguồn lực.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu:
    1. Tìm hiểu thực trạng năng lực của hệ thống y tế cơ sở tại huyện Hà Trung thông qua Bệnh viện Đa khoa huyện và 2 trạm y tế xã (Hà Phong, Hà Ngọc) trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân.
    2. Tìm hiểu những yếu tố tác động tới năng lực y tế cơ sở trong việc đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh.
    3. Tìm hiểu nhu cầu của người dân đối với dịch vụ y tế cơ sở.
    4. Đề xuất các giải pháp về y tế cơ sở nhằm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của cộng đồng.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Xây dựng cơ sở lý luận trên cơ sở thao tác hóa các khái niệm then chốt.
    2. Vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng, lý thuyết nhu cầu và cách tiếp cận hệ thống trong xã hội học y tế vào phân tích thực tiễn.
    3. Tiến hành điều tra xã hội học bằng phương pháp định tính và định lượng để đánh giá thực trạng năng lực y tế cơ sở và nhu cầu của người dân huyện Hà Trung.
    4. Lý giải các yếu tố kinh tế, xã hội, quản lý và chính sách tác động đến năng lực y tế cơ sở.
    5. Đề xuất các nhóm giải pháp khả thi nhằm tăng cường năng lực cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh cho cộng đồng.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Năng lực khám chữa bệnh của y tế cơ sở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa hiện nay ra sao?
  2. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến năng lực y tế cơ sở của địa bàn nghiên cứu?
  3. Đánh giá về dịch vụ và nhu cầu khám chữa bệnh của người dân hiện nay như thế nào?
  4. Những giải pháp gì để bổ sung, tăng cường năng lực y tế cơ sở trong việc đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân?

Giả thuyết nghiên cứu

  1. Năng lực hệ thống y tế cơ sở đóng vai trò quan trọng trong việc giảm tải cho y tế tuyến trên, nhưng đang tồn tại nhiều yếu kém về cơ chế quản lý, trình độ chuyên môn, trang thiết bị và tài chính nên chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân.
  2. Các yếu tố chính sách pháp luật (chế độ đãi ngộ, chính sách nhân lực, sự không thống nhất giữa đầu tư và chức năng) cùng điều kiện kinh tế - xã hội tại địa phương chưa tương thích với việc thực hiện chức năng khám chữa bệnh của y tế cơ sở.
  3. Người dân huyện Hà Trung chưa thực sự hài lòng với dịch vụ y tế cơ sở; nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng cao về cơ sở vật chất, trang thiết bị, chất lượng thăm khám và thái độ phục vụ.
  4. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý giám sát, phân bổ tài chính, đào tạo nhân lực và đầu tư phù hợp mô hình bệnh tật sẽ nâng cao năng lực y tế cơ sở.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Năng lực của y tế cơ sở trong việc đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân.
  • Khách thể nghiên cứu:
    • Tuyến tỉnh: Cán bộ lãnh đạo các phòng chức năng thuộc Sở Y tế tỉnh Thanh Hóa (Kế hoạch - Tổ chức, Nghiệp vụ y, Tài chính, Dược).
    • Tuyến huyện: Lãnh đạo và cán bộ Phòng Y tế huyện; Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện; Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Trung, Trưởng các phòng chức năng (Kế hoạch tổng hợp, Tài chính - Kế toán, Tổ chức cán bộ, Dược, Điều dưỡng, Trang thiết bị), Trưởng các khoa và nhân viên y tế (Khoa Khám bệnh, Chẩn đoán hình ảnh, Cấp cứu, Sản, Nhi, Ngoại); Người dân sử dụng dịch vụ y tế tuyến huyện.
    • Tuyến xã: Lãnh đạo UBND xã; Trạm trưởng và nhân viên Trạm Y tế xã Hà Phong và Hà Ngọc; Người dân sử dụng dịch vụ y tế tuyến xã.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (chọn nghiên cứu sâu tại Bệnh viện Đa khoa huyện và 2 xã đại diện là Hà Phong và Hà Ngọc).
    • Thời gian: Dữ liệu thực địa được thu thập và xử lý từ tháng 3/2015 đến tháng 12/2015.
    • Nội dung: Tập trung vào mảng khám chữa bệnh của y tế cơ sở, không khảo sát chuyên sâu mảng y tế dự phòng; so sánh cấu trúc xã hội thực tế với các quy định pháp lý hiện hành.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 hướng chính:

1. Hướng nghiên cứu về sự hài lòng của bệnh nhân và nhu cầu tiếp cận dịch vụ y tế cơ sở

  • Nguyễn Văn Quang và cộng sự (2006): Khảo sát chỉ số hài lòng dịch vụ công tại TP. Hồ Chí Minh, chỉ ra các yếu tố quyết định lựa chọn cơ sở y tế (khoảng cách, BHYT, trình độ bác sĩ, trang thiết bị) và thời gian chờ khám (47% dưới 30 phút, 30,9% từ 30-60 phút).
  • Ward và cộng sự (2005): Mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ y tế qua sự hài lòng gồm 4 nhóm: Sự tiếp nhận (giá cả, thời gian, chi phí, thủ tục), Kết quả điều trị, Giao tiếp - tương tác (thái độ hòa nhã, thân thiện) và Yếu tố hữu hình (cơ sở vật chất, sự sạch sẽ, tiện nghi).
  • Sara N. Bleich, Emre Özaltin và Christopher J.L. Murray (2009): Tổng quan dữ liệu của WHO tại 21 quốc gia Châu Âu, đo lường 8 lĩnh vực trải nghiệm của bệnh nhân; chứng minh người cao tuổi (>70 tuổi) có mức độ hài lòng cao hơn nhóm trẻ tuổi (18-29 tuổi), và điều trị nội trú có mức độ hài lòng cao hơn ngoại trú (p < 0,01).
  • Edith Parker và cộng sự (1992): Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong y tế công cộng tại 4 cộng đồng người Mỹ gốc Phi (khảo sát 282/429 cán bộ), khẳng định vai trò của kỹ năng cán bộ y tế và mạng lưới cộng đồng trong việc lập kế hoạch khám chữa bệnh.
  • Phạm Huy Dũng, Nghiêm Trần Dũng, Phạm Huy Tuấn Kiệt và Nguyễn Ngọc Hàm (2002): Phân tích tài chính bệnh viện Việt Nam thời kỳ đổi mới; BHYT và viện phí chiếm trên 35% ngân sách bệnh viện; chỉ ra sự mất cân đối giữa y tá và bác sĩ, tình trạng thiếu bác sĩ chuyên khoa tuyến huyện/tỉnh và việc áp dụng không thống nhất các phác đồ điều trị.
  • Lê Đình Diệm (2002-2003): Đánh giá hoạt động của TYT xã Chân Hưng và Nghĩa Hưng, chỉ ra điểm nghẽn về quản lý bệnh mãn tính, người cao tuổi và chất lượng chuyên môn chưa đồng đều.
  • Lưu Hoài Chuẩn, Vũ Thị Minh Hạnh và cộng sự (2003): Đánh giá hiệu quả đưa bác sĩ về công tác tại xã/phường tại 6 tỉnh (Hà Tây, Hòa Bình, Thừa Thiên Huế, Đắk Lắk, Kon Tum, Tây Ninh); 80% bác sĩ xã là người địa phương, 51,3% đào tạo chính quy; việc có bác sĩ làm tăng đáng kể lượt khám và dịch vụ kỹ thuật.
  • Hoàng Hải (2012): Khảo sát khả năng đáp ứng của lực lượng quân dân y trên một số đảo thuộc Quân khu 7 và Quân khu 9; nêu thực trạng 8/19 trạm chưa có bác sĩ, kiến nghị nâng cấp hạ tầng và bổ sung thuốc thiết yếu.

2. Hướng nghiên cứu về năng lực tổ chức quản lý y tế cơ sở

  • Lê Quang Hoành và cộng sự (2004): Đánh giá thực trạng quản lý nguồn nhân lực y tế cả nước, chỉ ra sự mất cân đối cơ cấu nhân lực giữa trung ương và địa phương, giữa khám chữa bệnh và dự phòng.
  • Lê Quang Hoành và cộng sự (2005): Nghiên cứu cơ chế quản lý hệ thống y tế huyện tại 14 huyện/thị thuộc 4 tỉnh (Hải Dương, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Nam); đánh giá việc triển khai Nghị định 12 của Chính phủ về tách chức năng quản lý nhà nước khỏi Trung tâm Y tế còn gặp nhiều bất cập do văn bản hướng dẫn chưa đồng bộ, thiếu nhân sự quản lý chuyên trách.
  • Lưu Hoài Chuẩn: Phân tích mô hình tổ chức nhân sự y tế huyện, phát hiện có 4 mô hình tổ chức y tế dự phòng khác nhau dẫn đến thiếu tính thống nhất, hầu như cán bộ thiếu chuyên môn dự phòng và thiếu bác sĩ sản khoa.

3. Hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của y tế cơ sở đến tiếp cận dịch vụ y tế

  • Đề tài cấp Bộ (2007-2009): "Tác động của các yếu tố văn hóa cơ bản đến công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng nông thôn", phát hiện xu hướng người dân bỏ qua tuyến xã để lên thẳng tuyến huyện hoặc cơ sở tư nhân do tâm lý lo ngại thủ tục và chất lượng.
  • Trần Thị Mai Oanh và nhóm nghiên cứu Viện Chiến lược và Chính sách Y tế (2010): Khảo sát tại 4 tỉnh miền núi (Điện Biên, Cao Bằng, Kon Tum, Bình Định), ghi nhận chỉ 16,5% TYT có đủ phòng theo chuẩn, 43% TYT đủ số lượng biên chế theo Thông tư 08, 23% đủ chức danh và chỉ 3% TYT thực hiện được toàn bộ danh mục kỹ thuật theo phân tuyến.
  • Viện Chiến lược và Chính sách Y tế (2012): Khảo sát tại 5 tỉnh Tây Nguyên (khảo sát 400 cán bộ, 24 phỏng vấn sâu, 24 thảo luận nhóm); nguyên nhân các bệnh viện huyện không triển khai được kỹ thuật phân tuyến gồm: thiếu nhân lực (40,1%), thiếu cơ sở vật chất (38,8%) và thiếu trang thiết bị (30,1%). Tỷ lệ không có dược sĩ đại học tại BVĐK huyện ở Đắk Lắk là 64,3%, Gia Lai là 85,7%.
  • Dương Chí Thiện (2013): Phân tích bất bình đẳng nông thôn - đô thị trong tiếp cận dịch vụ y tế tại Việt Nam do chênh lệch mức sống, khả năng chi trả và phân bố nguồn nhân lực trình độ cao.
  • Nguyễn Hoàng Long, Lưu Hoài Chuẩn, Dương Đức Thiện (2012): Khảo sát 1.099 bác sĩ tuyến xã và 531 trạm trưởng tại 10 tỉnh; 85,7% bác sĩ khẳng định việc về công tác tại xã giúp xử trí cấp cứu kịp thời và giảm tải tuyến trên; các trạm có bác sĩ thực hiện được trên 85% kỹ thuật đạt tỷ lệ 62,8% so với 37,2% ở trạm không có bác sĩ.

4. Năng lực cung cấp dịch vụ đối với một số bệnh phổ biến

  • Nghiên cứu tại Tanzania (2004): Đánh giá 19 cơ sở y tế điều trị HIV, ghi nhận 100% cơ sở làm được xét nghiệm máu tổng thể, 84% chụp X-quang ngực, 27% kiểm tra chức năng gan.
  • Nancy Fullman và cộng sự (2012) tại Kenya: Khảo sát 253 cơ sở y tế tại 18 quận, chỉ ra 20% cơ sở tuyến huyện thiếu nhân lực, chỉ 39% cơ sở có thiết bị chẩn đoán hình ảnh, 90% người bệnh phải chờ đợi trên 30 phút.
  • Musinguzi G. và cộng sự (2015) tại Uganda: Đánh giá năng lực quản lý bệnh tăng huyết áp tại 2 huyện, chỉ ra sự thiếu hụt trang thiết bị và kỹ năng chẩn đoán kéo dài.

Khoảng trống luận án giải quyết

Phần lớn các nghiên cứu trước đây tiếp cận dưới góc độ dịch tễ học, y tế công cộng hoặc kinh tế y tế thuần túy. Luận án lựa chọn cách tiếp cận Xã hội học y tế, tập trung phân tích thiết chế y tế cơ sở như một cấu trúc xã hội tương tác với nhu cầu và hành vi lựa chọn dịch vụ của người dân nông thôn tại một địa bàn cụ thể (huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa), đồng thời làm rõ sự bất cập giữa phân cấp quản lý hành chính và năng lực vận hành thực tế.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Các khái niệm công cụ

  • Y tế cơ sở: Mạng lưới y tế trực tiếp gần dân nhất, bao gồm y tế thôn bản, trạm y tế xã/phường/thị trấn, phòng y tế, trung tâm y tế và bệnh viện đa khoa tuyến huyện.
  • Năng lực y tế cơ sở: Khả năng thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao về cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh, bao gồm cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực, công tác dược, tài chính, công nghệ thông tin và năng lực tổ chức quản lý, điều hành.
  • Nhu cầu khám chữa bệnh: Mong muốn và đòi hỏi của người dân về việc được chẩn đoán, điều trị bệnh tật trong điều kiện cơ sở hạ tầng, thuốc men, thái độ phục vụ và chi phí hợp lý.
  • Đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh: Mức độ thỏa mãn của hệ thống y tế cơ sở đối với các đòi hỏi về số lượng, chất lượng và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của cộng đồng.

Các lý thuyết nghiên cứu

  1. Lý thuyết cấu trúc - chức năng: Được vận dụng để xem xét hệ thống y tế cơ sở như một bộ phận cấu thành của cấu trúc xã hội, thực hiện các chức năng chăm sóc sức khỏe ban đầu, chuyển tuyến và duy trì trạng thái ổn định cho hệ thống xã hội. Bất kỳ sự thiếu hụt nào về nguồn lực (nhân lực, thiết bị, tài chính) đều dẫn đến tình trạng lệch chức năng (dysfunction).
  2. Cách tiếp cận xã hội học y tế: Phân tích các mối quan hệ xã hội giữa cán bộ y tế và người bệnh, vai trò của người bệnh, sự tương tác giữa thiết chế y tế với chính quyền địa phương và các yếu tố kinh tế - văn hóa ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ.
  3. Lý thuyết nhu cầu: Tiếp cận từ góc độ nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng đa dạng của các nhóm dân cư theo độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp và mức thu nhập.

Khung phân tích và hệ biến số

Khung phân tích của luận án biểu thị mối quan hệ giữa các nhóm biến số:

  • Biến độc lập: Đặc điểm nhân khẩu - xã hội của cán bộ y tế và người dân (giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, vị trí làm việc, mức độ hài lòng về lương và chế độ).
  • Biến phụ thuộc: Năng lực y tế cơ sở (nhân lực, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, dược phẩm, tài chính, năng lực quản lý điều hành, ứng dụng công nghệ thông tin, năng lực tiếp đón và điều trị).
  • Biến can thiệp: Bối cảnh kinh tế - xã hội địa phương, chính sách pháp luật y tế, môi trường tự nhiên và nhu cầu khám chữa bệnh thực tế của người dân.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu có chủ đích kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại huyện Hà Trung; khảo sát tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Trung và 2 trạm y tế đại diện (xã Hà Phong và xã Hà Ngọc).
  • Thu thập thông tin:
    • Nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Báo cáo thống kê y tế của Sở Y tế tỉnh Thanh Hóa, UBND huyện Hà Trung, Phòng Y tế, Trung tâm Y tế và Bệnh viện huyện Hà Trung giai đoạn 2014-2015; các văn bản pháp luật, chính sách y tế liên quan.
    • Phỏng vấn sâu (PVS): Phỏng vấn lãnh đạo Sở Y tế, Trưởng phòng Y tế huyện (bà Vũ Thị Tâm - CKI), Trưởng khoa Dược BVĐK huyện, Trưởng phòng Kế toán - Tài chính BVĐK huyện, Bác sĩ điều trị BVĐK huyện, Trưởng trạm Y tế xã Hà Phong (bà Dương Thị Nga - Y sĩ sản nhi, Cử nhân YTCC), Trưởng trạm Y tế xã Hà Ngọc, cán bộ y tế trạm và người dân tại cộng đồng (như bà Tống Thị Đan - 54 tuổi, nông dân).
    • Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc đối với cán bộ y tế và người dân.
    • Quan sát thực địa tại các khoa phòng bệnh viện và trạm y tế.
  • Xử lý dữ liệu: Xử lý và phân tích số liệu định lượng bằng phần mềm thống kê chuyên ngành; phân loại, mã hóa dữ liệu định tính theo các chủ đề nội dung.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế về 4 chủ đề cốt lõi: sự hài lòng của người bệnh, năng lực tổ chức quản lý y tế tuyến cơ sở, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và năng lực đáp ứng các bệnh phổ biến. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đã khẳng định vai trò của y tế cơ sở nhưng chưa đi sâu phân tích cơ chế tương tác cấu trúc - chức năng giữa năng lực y tế cơ sở và nhu cầu thực tế của người dân tại vùng nông thôn Bắc Trung Bộ.

Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày hệ thống khái niệm công cụ, ba khung lý thuyết định hướng (cấu trúc - chức năng, xã hội học y tế, lý thuyết nhu cầu), khung phân tích với các hệ biến số rõ ràng. Đồng thời, chương này tổng thuật hệ thống chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về y tế cơ sở (Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, Chỉ thị 06-CT/TW, Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV, Thông tư 03/2008/TT-BYT) và thiết kế quy trình nghiên cứu thực địa tại huyện Hà Trung.

Chương 3: Khả năng đáp ứng của năng lực y tế cơ sở tại huyện Hà Trung, Thanh Hóa

Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm về năng lực thực tế của y tế cơ sở huyện Hà Trung so với các quy định pháp lý:

1. Cơ sở vật chất và trang thiết bị

  • Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Trung có cơ sở vật chất tương đối đầy đủ nhưng vẫn thiếu các trang thiết bị kỹ thuật cao (chưa có điều kiện triển khai phẫu thuật nội soi do thiếu cán bộ kỹ thuật được đào tạo; trang thiết bị chẩn đoán hình ảnh chưa được khai thác tối đa).
  • Tại tuyến xã: Trạm Y tế xã Hà Phong và Hà Ngọc thiếu nhiều phòng chức năng (chưa có phòng bấm huyệt, thiếu phòng khám riêng biệt), chưa có máy siêu âm đen trắng, máy xét nghiệm sinh hóa máu/nước tiểu; máy ly tâm có sẵn nhưng cán bộ chưa được đào tạo vận hành. Cả huyện chỉ có 7/25 xã có máy siêu âm và 4/25 xã có nhà hai tầng kiên cố.

2. Năng lực đội ngũ cán bộ y tế

  • Tại Bệnh viện huyện: Bác sĩ, dược sĩ đại học còn thiếu so với nhu cầu thực tế. Nhiều bộ phận xảy ra tình trạng làm trái ngành hoặc trình độ chuyên môn chưa tương xứng (Phòng Kế toán - Tài chính có 16 nhân viên nhưng 3 người trình độ trung cấp, 1 cao đẳng, nhiều nhân viên tốt nghiệp quản trị kinh doanh hoặc tài chính ngân hàng, chưa được đào tạo kế toán bệnh viện chuyên sâu dẫn đến khó khăn trong hạch toán nghiệp vụ).
  • Tuyến xã: Trạm Y tế xã Hà Phong có 1 điều dưỡng, 2 y sĩ, 1 cử nhân y tế công cộng, chưa có bác sĩ cơ hữu; trạm trưởng là Y sĩ sản nhi kiêm Cử nhân y tế công cộng. Đội ngũ y tế tuyến xã rất ít khi được tập huấn chuyên sâu (chỉ 1-2 lần/năm do tuyến trên tổ chức, trạm tự sinh hoạt chuyên môn hàng tuần). Toàn huyện năm 2014-2015 chỉ có 19/25 xã có bác sĩ.

3. Công tác dược và cung ứng thuốc

  • Quy trình đấu thầu thuốc mở 6 tháng/lần hoặc 1 năm/lần. Phương thức dự trù thuốc hiện áp dụng công thức: lấy số lượng thuốc 6 tháng đầu năm nhân đôi cho cả năm và cộng thêm 20% (120%). Cách tính này bộc lộ hạn chế do 6 tháng đầu năm có 2 tháng trùng dịp Tết Nguyên đán, không phản ánh đúng mô hình bệnh tật thực tế.
  • Bệnh viện thường xuyên thiếu thuốc điều trị cục bộ, phải giải quyết bằng cách mượn thuốc từ các chi nhánh khác hoặc kê đơn mua ngoài khiến người bệnh chịu chi phí cao, không được BHYT thanh toán. Dược sĩ lâm sàng tại bệnh viện chưa đủ chuyên môn sâu để tư vấn tương tác thuốc cho bác sĩ điều trị.
  • Tại trạm y tế xã, danh mục thuốc hạn chế; nguồn thu bán lẻ thuốc giữ lại 10% hoa hồng là nguồn kinh phí chính để bù đắp chi phí điện, nước, văn phòng phẩm.

4. Năng lực tài chính

  • Bệnh viện huyện là đơn vị sự nghiệp có thu một phần, nhà nước cấp bù chênh lệch. Chỉ tiêu giường bệnh nhà nước giao là 150 giường, nhưng thực tế bệnh viện vận hành tới 490 giường bệnh, gây áp lực lớn lên chi phí điện, nước, hóa chất, vật tư tiêu hao và quỹ lương (phải tự chi trả 35% chênh lệch quỹ lương).
Hạng mục tài chính tại BVĐK huyện Hà Trung Giá trị / Tỷ lệ thực tế
Quy mô giường bệnh được giao ngân sách 150 giường
Quy mô giường bệnh thực tế vận hành 490 giường
Tỷ lệ bệnh nhân khám chữa bệnh bằng BHYT 70%
Nguồn thu từ Ngân sách nhà nước cấp 17%
Nguồn thu từ Bảo hiểm y tế 9 tỷ đồng
Nguồn thu từ Viện phí 37 tỷ đồng
Nguồn thu dịch vụ khác (căng tin, nhà xe...) 900 triệu đồng
Chi tiền lương cơ bản 5,8 tỷ đồng
Chi lương hợp đồng 1,9 tỷ đồng
Chi phụ cấp cán bộ 5,0 tỷ đồng
Chi nộp BHYT, BH thất nghiệp, kinh phí công đoàn 1,9 tỷ đồng
Chi lương tăng thêm 5,4 tỷ đồng
Chi nghiệp vụ chuyên môn (thuốc, hóa chất, y cụ) 18,0 tỷ đồng
Chi quỹ phát triển sự nghiệp, khen thưởng, phúc lợi 4,6 tỷ đồng
Chi sửa chữa tài sản, máy móc trang thiết bị 1,7 tỷ đồng
Chi dịch vụ công cộng (điện, nước, vệ sinh) 1,4 tỷ đồng
Kết dư tài chính năm 2013 2,6 tỷ đồng
Kết dư tài chính năm 2014 > 2,0 tỷ đồng
  • Tại trạm y tế xã Hà Phong: Trung tâm Y tế huyện cấp 1-2 triệu đồng/năm cho văn phòng phẩm; UBND xã không hỗ trợ tiền điện thoại thường xuyên. Nguồn thu hoa hồng từ bán thuốc dao động từ 1 đến 20 triệu đồng/tháng được dùng để duy trì các chi phí vận hành thường xuyên (điện, mạng internet, sổ sách).

5. Năng lực quản lý và quy trình tổ chức

  • Quy trình đón tiếp bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa huyện đạt mức 3 điểm theo thang đánh giá của Bộ Y tế; chưa trang bị hệ thống lấy số điện tử; mức độ ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hồ sơ bệnh án còn sơ khai.
  • Sự phối hợp giữa các phòng ban (giữa Phòng Kế hoạch tổng hợp với các khoa lâm sàng và Khoa Dược) chưa chặt chẽ, dẫn đến chậm trễ hoặc quy trình khám chữa bệnh bị rút gọn không đúng chuẩn.

Chương 4: Một số yếu tố ảnh hưởng tới năng lực y tế cơ sở

Chương 4 phân tích các nhóm yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến khả năng vận hành của hệ thống y tế cơ sở:

1. Nhu cầu và đánh giá của người dân

  • 60-70% người dân khám chữa bệnh tại trạm y tế và bệnh viện huyện sử dụng thẻ BHYT (gồm BHYT tự nguyện, người nghèo, cận nghèo, người có công).
  • Người dân đánh giá cao sự thân thiện, gần gũi của nhân viên trạm y tế xã (như trường hợp bà Tống Thị Đan phản ánh), nhưng bày tỏ mong muốn trạm được đầu tư thêm máy siêu âm, máy xét nghiệm và có bác sĩ thường trực để không phải chuyển tuyến huyện khi mắc bệnh nặng.
  • Có mối liên hệ chặt chẽ giữa trình độ học vấn, nghề nghiệp với hành vi lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh: người có học vấn và thu nhập cao hơn có xu hướng vượt tuyến lên tuyến tỉnh hoặc tìm đến phòng khám tư nhân.

2. Thể chế, chính sách và mô hình tổ chức tuyến huyện

  • Mô hình quản lý y tế tuyến huyện bộc lộ sự chồng chéo, phân khúc trách nhiệm giữa 3 đơn vị trực thuộc ngang hàng: Phòng Y tế huyện (cơ quan tham mưu quản lý nhà nước cho UBND huyện), Trung tâm Y tế huyện (thực hiện chức năng dự phòng và quản lý trạm y tế xã) và Bệnh viện Đa khoa huyện (thực hiện chức năng khám chữa bệnh).
  • Theo phản ánh của Trưởng phòng Y tế huyện (bà Vũ Thị Tâm), việc chuyển Trạm Y tế xã về Trung tâm Y tế quản lý khiến Phòng Y tế bị mất đầu mối nắm bắt thông tin thực địa; các văn bản chỉ đạo của Sở Y tế nhiều khi gửi thẳng tới Trung tâm Y tế và Bệnh viện, bỏ qua Phòng Y tế, tạo nên tình trạng thiếu thống nhất trong chỉ đạo điều hành tại địa phương.

3. Điều kiện kinh tế - xã hội và di biến động dân cư

  • Huyện Hà Trung có cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp; tỷ lệ lao động nông thôn đi làm ăn xa tại các thành phố lớn chiếm tỷ lệ cao, di biến động nhiều lần trong năm, làm thay đổi cấu trúc mô hình bệnh tật (gia tăng các bệnh truyền nhiễm, hô hấp, stress tâm lý) nhưng y tế cơ sở chưa có công cụ theo dõi, quản lý hồ sơ sức khỏe dịch chuyển này.

4. Nhãn quan và sự quan tâm của lãnh đạo địa phương

  • Mức độ đầu tư cơ sở vật chất cho trạm y tế phụ thuộc lớn vào sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền xã. Xã nào lãnh đạo quan tâm hỗ trợ ngân sách tu sửa nhà trạm, hỗ trợ kinh phí hoạt động thì trạm y tế đạt chuẩn nhanh hơn và thu hút người dân đến khám đông hơn.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  1. Vận dụng thành công khung lý thuyết cấu trúc - chức năng và xã hội học y tế để chứng minh rằng năng lực y tế cơ sở không chỉ là năng lực kỹ thuật/y khoa đơn thuần, mà là một thiết chế xã hội chịu sự quy định chặt chẽ bởi cơ chế phân cấp quản lý, chính sách tài chính, văn hóa ứng xử và nhu cầu của cộng đồng nông thôn.
  2. Làm rõ sự lệch pha (dysfunction) giữa chức năng được quy định trên văn bản pháp luật (như Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV, Thông tư 03/2008/TT-BYT) với cấu trúc nguồn lực thực tế tại địa phương (vận hành 490 giường bệnh trên chỉ tiêu 150 giường; trạm y tế thiếu máy móc chẩn đoán cơ bản nhưng được giao chỉ tiêu kỹ thuật vượt mức).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện, số liệu xác thực về thực trạng nhân lực, tài chính, quy trình dược và cơ chế quản lý y tế cơ sở tại huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa năm 2015.
  2. Chỉ ra nút thắt thể chế tại tuyến huyện: mô hình "tam giác" quản lý (Phòng Y tế - Trung tâm Y tế - Bệnh viện Đa khoa) thiếu một đầu mối thống nhất, làm suy giảm hiệu lực quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn.
  3. Chỉ ra hạn chế trong quy trình lập dự toán và đấu thầu dược phẩm (công thức tính 6 tháng đầu năm nhân đôi + 20%), dẫn đến tình trạng thiếu thuốc điều trị danh mục BHYT tại chỗ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  1. Hoàn thiện thể chế quản lý tuyến huyện: Cần tái cấu trúc, quy định rõ thẩm quyền và đầu mối quản lý y tế tại cấp huyện; tăng cường vai trò điều phối, giám sát thực chất của Phòng Y tế huyện đối với Bệnh viện và Trung tâm Y tế.
  2. Cải tiến cơ chế phân bổ tài chính và định mức giường bệnh: Phân bổ ngân sách y tế dựa trên công suất sử dụng giường bệnh thực tế và quy mô dân số (đầu dân), không ấn định cơ học chỉ tiêu giường bệnh thấp hơn nhiều so với thực tế vận hành.
  3. Đổi mới quy trình dự trù và đấu thầu thuốc: Xây dựng danh mục thuốc và kế hoạch dự trù dựa trên mô hình bệnh tật thực tế của địa phương; tăng cường sự tham gia của khoa lâm sàng cùng khoa Dược; quy định linh hoạt việc bổ sung thuốc ngoài danh mục trúng thầu khi có nhu cầu điều trị cấp bách.
  4. Phát triển nguồn nhân lực và đào tạo chuyên sâu: Có chính sách thu hút bác sĩ chính quy về công tác tại huyện và xã; đào tạo chuyển giao kỹ thuật theo phương thức "cầm tay chỉ việc", tập trung vào kỹ năng chẩn đoán hình ảnh, siêu âm, xét nghiệm và điều trị sản nhi cho cán bộ tuyến xã; đào tạo chuẩn hóa nghiệp vụ kế toán bệnh viện cho nhân viên tài chính.
  5. Nâng cấp hạ tầng, trang thiết bị đồng bộ: Đầu tư máy siêu âm, máy xét nghiệm cơ bản cho toàn bộ trạm y tế xã; đưa ứng dụng công nghệ thông tin và quản lý số điện tử vào quy trình tiếp đón bệnh nhân tại bệnh viện huyện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Về phạm vi nội dung: Luận án giới hạn nghiên cứu trong mảng hoạt động khám chữa bệnh của y tế cơ sở, chưa đi sâu khảo sát mảng y tế dự phòng và các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế.
    • Về phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện dưới dạng nghiên cứu trường hợp (case study) tại huyện Hà Trung (khảo sát sâu 2 trạm y tế xã Hà Phong và Hà Ngọc), do đó một số phát hiện đặc thù có thể mang tính cục bộ của khu vực đồng bằng/bán sơn địa tỉnh Thanh Hóa, chưa bao quát hết các huyện miền núi cao.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu đánh giá năng lực y tế cơ sở trên cả hai mảng song hành: Khám chữa bệnh và Y tế dự phòng.
    • Thực hiện các nghiên cứu so sánh đối sánh giữa các vùng sinh thái xã hội khác nhau (vùng ven biển, vùng đồng bằng và vùng miền núi cao) trong cùng một tỉnh hoặc giữa các tỉnh Bắc Trung Bộ.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên Xã hội học / Xã hội học y tế: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp định tính và định lượng trong nghiên cứu xã hội học về y tế; khung phân tích cấu trúc - chức năng và hệ thống bảng hỏi, mẫu biên bản phỏng vấn sâu tại thực địa.
  • Đối với các nhà quản lý ngành y tế và hoạch định chính sách (Sở Y tế, UBND cấp huyện): Luận án cung cấp các cứ liệu thực tế về bất cập mô hình tổ chức quản lý y tế tuyến huyện, cơ chế đấu thầu thuốc và phân bổ tài chính bệnh viện, là cơ sở thực tiễn để tham mưu hoàn thiện chính sách y tế cơ sở.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Chương 3 (phân tích chi tiết số liệu tài chính, nhân lực, công tác dược) và hệ thống biên bản phỏng vấn sâu cán bộ quản lý, bác sĩ và người dân tại phần phụ lục.

Câu hỏi thường gặp

1. Mô hình tổ chức quản lý y tế tuyến huyện tại Hà Trung bộc lộ những bất cập gì theo phân tích của luận án?

Theo luận án, tại tuyến huyện tồn tại đồng thời 3 cơ quan ngang hàng: Phòng Y tế (tham mưu cho UBND huyện), Trung tâm Y tế (chịu trách nhiệm dự phòng và quản lý trạm y tế xã) và Bệnh viện Đa khoa huyện (phụ trách khám chữa bệnh). Mô hình này tạo ra sự phân khúc, thiếu một đầu mối chỉ đạo thống nhất; Phòng Y tế không có thẩm quyền chỉ đạo chuyên môn trực tiếp đối với Bệnh viện và không nắm được thực trạng vận hành của trạm y tế xã do trạm trực thuộc Trung tâm Y tế quản lý.

2. Tình trạng mất cân đối giữa chỉ tiêu giao và thực tế vận hành tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Trung diễn ra như thế nào?

Ngân sách nhà nước chỉ giao chỉ tiêu cho Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Trung là 150 giường bệnh, nhưng trên thực tế bệnh viện phải vận hành tới 490 giường bệnh để đáp ứng nhu cầu điều trị của người dân. Tình trạng này dẫn đến việc bệnh viện phải tự bù đắp các chi phí gia tăng về điện nước, vật tư tiêu hao, hóa chất và phải tự chi trả 35% chênh lệch quỹ lương cho nhân viên ngoài biên chế được giao.

3. Phương thức dự trù và đấu thầu dược phẩm tại y tế cơ sở huyện Hà Trung gặp rào cản gì?

Phương thức dự trù thuốc căn cứ vào công thức: lấy số liệu sử dụng thuốc của 6 tháng đầu năm nhân đôi cho cả năm và cộng thêm 20% (tức 120%). Cách tính này không phản ánh đúng thực tế vì 6 tháng đầu năm có 2 tháng trùng Tết Nguyên đán. Đấu thầu tập trung mở định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm một lần khiến bệnh viện không thể bổ sung kịp thời các loại thuốc phát sinh theo mô hình bệnh tật, buộc bệnh nhân phải tự mua ngoài hoặc bệnh viện phải đi vay thuốc từ các đơn vị khác.

4. Thực trạng năng lực trang thiết bị và chuyên môn tại trạm y tế tuyến xã (Hà Phong, Hà Ngọc) ra sao?

Cả 2 trạm y tế xã đều thiếu các trang thiết bị chẩn đoán cận lâm sàng cơ bản như máy siêu âm đen trắng, máy xét nghiệm sinh hóa máu và nước tiểu; máy ly tâm có sẵn nhưng nhân viên chưa được đào tạo vận hành. Về nhân lực, trạm không có bác sĩ cơ hữu trực tiếp; trạm trưởng là Y sĩ sản nhi kiêm Cử nhân y tế công cộng; cán bộ y tế trạm rất ít được đào tạo nâng cao chuyên môn (chỉ 1-2 lần/năm từ tuyến trên).

5. Tỷ lệ bệnh nhân khám chữa bệnh bằng BHYT tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Trung và trạm y tế xã là bao nhiêu?

Theo số liệu khảo sát và phỏng vấn sâu trong luận án, tỷ lệ bệnh nhân khám chữa bệnh có thẻ BHYT chiếm khoảng 70% tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Trung và chiếm khoảng 60% tại Trạm Y tế xã Hà Phong.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hoài An đã phân tích một cách hệ thống thực trạng năng lực y tế cơ sở tại huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa dưới lăng kính cấu trúc - chức năng của Xã hội học y tế. Kết quả nghiên cứu làm rõ những khoảng cách lớn giữa quy định thể chế với năng lực đáp ứng thực tế về cơ sở vật chất, nhân lực, tài chính, công tác dược và quản trị hệ thống y tế tuyến huyện và xã. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ khoa học xác thực, đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ về đổi mới mô hình quản lý, phương thức cấp phát tài chính và đào tạo nhân lực nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân tại địa phương.