Chương 1 này đã trình bày cơ sở để tác giả hình thành đề tài nghiên cứu đối với một bệnh viện cấp huyện đầu tiên của tỉnh Trà Vinh (Bệnh viện đa khoa thị xã Duyên Hải). Trước tình hình có nhiều khách hàng góp ý bày tỏ thái độ không hài lòng về chất lượng của bệnh viện, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với Bệnh viện đa khoa thị xã Duyên Hải. Đó là mục tiêu chính yếu của nghiên cứu này. Nghiên cứu được thực hiện với đối tượng là bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện đa khoa thị xã Duyên Hải.
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho việc quản trị tại bệnh viện được tốt hơn. Chương 2 tiếp theo sẽ trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất. 123doc 7 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm chất lƣợng dịch vụ và chất lƣợng dịch vụ khám, chữa bệnh 2.1 Chất lƣợng dịch vụ Có rất nhiều định nghĩa về chất lượng dịch vụ trên thế giới, tuy nhiên mọi người đều tập trung vào nó là cái gì đó mà khách hàng cảm nhận được thông qua sự tác động qua lại. Do nhu cầu và nhận thức của mỗi khách hàng khác nhau nên họ cũng có sự cảm nhận không giống nhau.
Lehtinen & Lehtinen (1982) cho rằng chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh: (i) Quá trình cung cấp dịch vụ và (ii) kết quả của dịch vụ. Gronroos (1984) cũng đưa ra hai thành phần của chất lượng dịch vụ, đó là: (i) Chất lượng kỹ thuật là những gì mà khách hàng nhận được, (ii) chất lượng chức năng diễn giải chất lượng dịch vụ được cung cấp như thế nào. Với Parasuraman & ctg (1988) thì chất lượng dịch vụ là “khoảng cách giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ”. Zeithaml và Bitner (1996) lại cho rằng chất lượng dịch vụ là sự cung cấp dịch vụ xuất sắc so với mong đợi của khách hàng.
Tâm lý khách hàng luôn tìm kiếm các sản phẩm và dịch vụ chất lượng. Vì vậy, các nhà quản trị đều xem chất lượng là mục tiêu chiến lược để đạt lợi thế canh tranh. Một khi chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ được cải thiện sẽ làm giảm chi phí, tăng năng suất, tạo ra sản phẩm tốt hơn hay dịch vụ có sẵn cho khách hàng. Từ đó, năng lực tổ chức nâng cao và tạo được mối quan hệ lâu dài với khách hàng (Mosadeghrad, 2011; Amin và Nasharuddin, 2013).2 Chất lƣợng dịch vụ khám, chữa bệnh Chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh là mức độ mà dịch vụ y tế cung cấp cho cá nhân hoặc cộng đồng.
Qua đó, có thể làm tăng khả năng đạt kết quả mong đợi về sức 123doc 8 khỏe và phù hợp với kiến thức chuyên môn hiện hành (Cục Quản lý khám, chữa bệnh, 2013). Để xác định sự gia tăng này thì câu hỏi cần trả lời là: Hôm nay người bệnh có cảm thấy khỏe hơn không? Liệu ngày mai người bệnh có khỏe hơn hôm nay không?. Muốn trả lời được chính xác các câu hỏi này, cần phải đo lường chính xác mức độ thực hiện nhiệm vụ, công việc trước đây, hiện tại và tương lai. Đây cũng là câu trả lời cho mức độ chất lượng khám, chữa bệnh.3 Mô hình khoảng cách trong chất lƣợng dịch vụ Parasuraman và công sự (1985) cho rằng muốn biết được dự đoán của khách hàng, tốt nhất là nhận dạng và thấu hiểu những mong đợi của họ.
Việc cần thiết là phải phát triển được một hệ thống xác định được những mong đợi của khách hàng, sau đó có chiến lược nâng cao và duy trì chất lượng dịch vụ. Parasuraman được xem là một trong những người đầu tiên nghiên cứu chất lượng dịch vụ một cách cụ thể và chi tiết trong lĩnh vực tiếp thị với việc đưa ra mô hình năm khoảng cách trong chất lượng dịch vụ. Khi khách hàng nhận thấy không có sự khác biệt giữa chất lượng họ kỳ vọng và chất lượng họ cảm nhận được khi tiêu dùng một dịch vụ nào đó thì chất lượng dịch vụ được xem là hoàn hảo. Mô hình năm khoảng cách là mô hình tổng quát, mang tính chất lý thuyết về chất lượng dịch vụ.
Mô hình chất lƣợng dịch vụ Thông tin qua Các nhu cầu Kinh nghiệm lời giới thiệu cá nhân quá khứ Dịch vụ kỳ vọng Khoảng cách 5 Dịch vụ cảm nhận được NGƢỜI DÂN NHÀ CUNG CẤP Khoảng cách 4 Cung cấp dịch vụ DỊCH VỤ Thông tin đến (bao gồm liên hệ trước người dân và sau khi cung cấp) Khoảng cách 1 Khoảng cách 3 Chuyển đổi cảm nhận thành tiêu chí chất lượng Khoảng cách 2 Nhận thức (của nhà quản lý) về kỳ vọng của người dân Nguồn: Parasuaraman và cộng sự (1985) - Khoảng cách 1: Là khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng và cảm nhận của nhà cung cấp dịch vụ về kỳ vọng đó. Sự diễn dịch kỳ vọng của khách hàng khi không hiểu thấu đáo các đặc trưng chất lượng dịch vụ, đặc trưng khách hàng tạo ra sai biệt này. Ở lĩnh vực y tế, bệnh viện cần biết rõ các yếu tố cấu thành nên chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh để đem lại sự hài lòng như mong đợi của người bệnh. 123doc 10 - Khoảng cách 2: Được tạo ra khi nhà cung cấp gặp các khó khăn, trở ngại khách quan lẫn chủ quan khi chuyển các kỳ vọng được cảm nhận sang các tiêu chí chất lượng cụ thể và chuyển giao chúng đúng như kỳ vọng.
Các tiêu chí này trở thành các thông tin tiếp thị đến khách hàng. Điều này rất dễ xảy ra trong lĩnh vực y tế khi mà cầu về dịch vụ cao quá cao làm cho bệnh viện quá tải, bên cạnh năng lực chuyên môn của các thầy thuốc rất khác nhau. - Khoảng cách 3: Hình thành khi nhân viên chuyển giao dịch vụ cho các khách hàng không đúng tiêu chí đã định. Vai trò nhân viên giao dịch trực tiếp rất quan trọng trong tạo ra chất lượng dịch vụ.
Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, thái độ của viên y tế là rất quan trọng và gây ảnh hưởng đến cảm nhận của người bệnh về chất lượng dịch vụ, về y đức của nhân viên y tế. - Khoảng cách 4: Sự khác biệt giữa dịch vụ chuyển giao và thông tin mà khách hàng nhận được. Thông tin này có thể làm tăng kỳ vọng nhưng có thể làm giảm chất lượng dịch vụ cảm nhận khi khách hàng nhận không đúng những gì đã cam kết. Điều này xảy ra khi bệnh viện không giữ đúng cam kết.
Cũng có thể khách hàng cập nhật được thông tin qua các phương tiện quảng cáo không phản ánh đúng chất lượng dịch vụ. - Khoảng cách 5: Hình thành sự khác biệt giữa chất lượng cảm nhận và chất lượng kỳ vọng khi khách hàng tiêu thụ dịch vụ. Theo Parasuraman và cộng sự (1985), thì chất lượng dịch vụ chính là khoảng cách thứ 5, nhưng khoảng cách này lại phụ thuộc vào 4 khoảng cách trước. Mô hình chất lượng dịch vụ, theo các nhà nghiên cứu này có thể được biểu diễn như sau: CLDV = F{KC_5 = f(KC_1, KC_2, KC_3, KC_4)} Trong đó: CLDV là chất lượng dịch vụ và KC_1, 2, 3, 4, 5 là các khoảng cách chất lượng 1, 2, 3, 4, 5.4 Đánh giá chất lƣợng dịch vụ Có nhiều cách khác nhau để đánh giá chất lượng dịch vụ thông qua cảm nhận của khách hàng.
Parasuraman & ctg (1985) cho rằng bất cứ lĩnh vực dịch vụ nào, nhận 123doc 11 thức (cảm nhận) về chất lượng dịch vụ cũng đều có thể đo lường thông qua 10 thành phần sau: - Tin cậy (reliability): Khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp với đúng thời hạn ngay lần đầu tiên. - Đáp ứng (responseveness): Sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ cho khách hàng. - Năng lực phục vụ (competence): Thể hiện trình độ chuyên môn đáp ứng dịch vụ. Khả năng phục vụ được thể hiện thông qua việc nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên trực tiếp thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu để nắm bắt thông tin liên quan cần thiết cho việc phục vụ khách hàng.
- Tiếp cận (assess): Việc tạo mọi điều kiện dễ dàng cho khách hàng trong việc tiếp cận dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ đợi, địa điểm phục vụ và giờ mở cửa thuận lợi cho khách hàng. - Lịch sự (courtesy): Thể hiện cung cách phục vụ như hiểu biết văn hóa vùng miền, niềm nở, tôn trọng và thận trọng với khách hàng. - Thông tin (communication): Thể hiện việc giao tiếp, truyền đạt thông tin cho khách hàng bằng ngôn ngữ mà họ hiểu biết dễ dàng và lắng nghe những vấn đề liên quan đến họ như giải thích dịch vụ, chi phí, giải đáp thắc mắc. - Tín nhiệm (credibility): Khả năng tạo lòng tin cho khách hàng, làm cho khách hàng đặt niềm tin vào công ty.
Khả năng này thể hiện qua tên tuổi và danh tiếng của công ty, nhân cách và trách nhiệm của nhân viên dịch vụ giao tiếp trực tiếp với khách hàng. - An toàn (security): Khả năng bảo đảm sự an toàn cho khách hàng thể hiện qua sự an toàn về mặt tinh thần, vật chất cũng như bảo mật thông tin. - Hiểu biết khách hàng (understanding the customer): Thể hiện khả năng hiểu biết nhu cầu của khách hàng như việc tìm hiểu những đòi hỏi của khách hàng, quan tâm đến cá nhân họ, chăm chút những vấn đề nhỏ nhất, tỉ mỉ nhất và biết được những người nào là khách hàng thường xuyên. 123doc 12 - Phương tiện hữu hình (tangibles): Thể hiện qua ngoại hình, trang phục vụ của đội ngũ nhân viên và các trang thiết bị đi kèm phục vụ cho dịch vụ.
Thang đo trên có ưu điểm là bao quát hết các khía cạnh của một dịch vụ. Nhưng nó rất phức tạp trong việc đo lường và đánh giá. Hơn nữa, thang đo này mang tính lý thuyết, phức tạp và rất có thể có một số thành phần của mô hình chất lượng dịch vụ này không đạt giá trị phân biệt trong một số trường hợp. Cho nên năm 1988, Parasuraman và cộng sự đã hiệu chỉnh lại và hình thành thang đo mới gồm 5 thành phần: (1) Tin cậy (reliability); (2) Đáp ứng (responseveness); (3) Đảm bảo (assurance); (4) Đồng cảm (empathy); (5) Phương tiện hữu hình (tangibles) và được đặt tên là SERVQUAL (Parasuraman và cộng sự, 1988).5 Thang đo chất lƣợng dịch vụ SERVQUAL và SERVPERF Thang đo SERVQUAL do Parasuraman và cộng sự (1988) đưa ra gồm 2 phần chính, mỗi phần có 22 phát biểu.