đặt vấn đề, mục tiêu nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu luận văn. Nội dung Chương 2 nhằm mục đích giới thiệu những lý thuyết cơ sở cho việc đo lường CLDV khách hàng về lĩnh vực KCB. Phần thứ nhất giới thiệu về khái niệm các loại hình dịch vụ; về dịch vụ KCB; về chất lượng dịch vụ, khung lý thuyết đo lường CLDV; Sự hài lòng về CLDV. Phần thứ hai là xây dựng mô hình lý thuyết đề nghị gồm các thành phần của chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh có ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng.
Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước 2. Các khái niệm - Khái niệm dịch vụ: Hiện nay, thực tế các định nghĩa hay khái niệm về dịch vụ (DV) chưa có một sự thống nhất nào được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu. Hơn nữa, các quốc gia khác nhau, có cách hiểu khác nhau về DV, tùy vào sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương thì có những định nghĩa hay khái niệm về dịch vụ tương ứng. Theo một số nhà nghiên cứu của Việt Nam, họ có cách tiếp cận riêng của mình và đã có những định nghĩa có thể chuyển tải được những nội dung cơ bản và tương đối đầy đủ về dịch vụ.
Tác giả Hồ Văn Vĩnh (2006) đã đưa ra định nghĩa: “Dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái phi vật thể”. “Dịch vụ là sự phục vụ góp phần đáp ứng các nhu cầu của cá nhân hay tập thể khác với thể thức chuyển quyền sở hữu một thứ của cải vật chất nào đó”. Còn các nghiên cứu nước ngoài thì lại có những quan niệm, những định nghĩa khác về DV. Theo Kotler (2006), định nghĩa về DV như sau: “dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó.
Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Theo định nghĩa của Heizer and 123doc 7 Render (2006) dịch vụ là: “Những hoạt động kinh tế thường tạo ra sản phẩm vô hình, chẳng hạn: dịch vụ giáo dục, giải trí, tài chính và y tế”. Đứng theo góc độ luận văn này, tác giả cho rằng định nghĩa về dịch vụ (DV) thích hợp nhất đó là: “Dịch vụ là sự phục vụ góp phần đáp ứng các nhu cầu của cá nhân hay tập thể khác với thể thức chuyển quyền sở hữu một thứ của cải vật chất nào đó”. - Khái niệm chất lượng dịch vụ: Chất lượng dịch vụ trên gốc độ nhà sản xuất, chất lượng dịch vụ là việc bảo đảm cung cấp dịch vụ theo đúng kịch bản với kĩ năng nghiệp vụ cao của nhân viên cung ứng và đội ngũ cán bộ quản lí.
Trên gốc độ khách hàng, chất lượng dịch vụ là mức độ hài lòng của khách hàng trong quá trình tiêu dùng dịch vụ, là dịch vụ tổng thể của doanh nghiệp mang lại chuỗi lợi ích và thỏa mãn đầy đủ nhu cầu mong đợi của khách hàng, tương xứng với chi phí mà khách hàng phải thanh toán. Các đặc trưng của dịch vụ Trong tất cả các sản phẩm do con người tạo ra, chúng ta thường phân loại thành hai dạng khác nhau đó là vô hình và hữu hình, các sản phẩm DV thường là những sản phẩm vô hình mà: Chính những đặc trưng tạo nên sự khác biệt của DV so với các sản phẩm hữu hình, Parasuraman và cộng sự (1985). Các đặc trưng về DV như sau: - Tính vô hình: DV mang tính chất là vô hình. Điều này có nghĩa DV là một tiến trình chứ không phải là một vật thể và được cảm nhận chứ không phải là được tiêu dùng như sản phẩm vật chất, Wallström (2002).
- Tính không tách rời: Giữa cung ứng DV thường được thực hiện đồng thời với việc tiêu thụ, ngược lại với các sự vật cụ thể là được sản xuất trước tiên, và sau đó mới được cung cấp cho người tiêu dùng để sử dụng. - Tính không đồng nhất: DV thường không thể chuẩn hóa, đồng nhất và chính xác theo thời gian. Tuỳ vào khách hàng hay thời điểm, địa điểm thì nhà cung cấp dịch vụ sẽ được thực hiện khác nhau. 123doc 8 - Không dự trữ được: dịch vụ thường cung cấp và tiêu thụ cùng lúc, nó không thể cất giữ và tiêu thụ sau.
Hay nói cách khác là dịch vụ sẽ không tồn tại nếu không được “tiêu thụ” vào một thời điểm xác định nào đó. - Không chuyển quyền sở hữu được: khi được cung cấp một DV nào đó, người mua chỉ được quyền “sử dụng” DV tại thời điểm đó, chứ không hề được cấp quyền “sở hữu” nên không thể chuyển quyền sở hữu. Nghiên cứu của tác giả Parasuraman và cộng sự (1985) Một trong các đặc điểm cơ bản của CLDV là khó đo lường, khó xác định được tiêu chuẩn chất lượng, nó phụ thuộc vào yếu tố con người là chủ yếu. “Parasuraman và cộng sự (1985)”, Ông là một trong những người tiên phong trong nghiên cứu chất lượng dịch vụ của ngành tiếp thị.
“Bộ thang đo SERVQUAL nhằm đo lường sự cảm nhận về dịch vụ thông qua năm thành phần chất lượng dịch vụ, bao gồm: 1. Tin cậy (reliability): thể hiện khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng hạn ngay lần đầu. Đáp ứng (responsiveness): thể hiện sự sẵn lòng của nhân viên phục vụ nhằm cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng. Năng lực phục vụ (assurance): thể hiện trình độ chuyên môn và cung cách phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng.
Đồng cảm (empathy): thể hiện sự quan tâm chăm sóc đến từng cá nhân khách hàng. Phương tiện hữu hình (tangibles): thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị để thực hiện dịch vụ”. Mô hình năm khoảng cách về CLDV như sau: Khoảng cách 1: Khách hàng kỳ vọng về CLDV so với sự nhìn nhận của nhà cung cấp có sự sai biệt. Kết quả cho thấy không phải lúc nào nhà quản lý cũng nhìn nhận rõ sự thoả mãn của khách hàng về CLDV mà mình cung cấp.
Khoảng cách 2: Nhà cung cấp thay đổi cách phục vụ dù khách quan lẫn chủ quan trong việc chuyển đổi cách thức của mình về kỳ vọng của khách hàng và những đặc tính chất lượng của dịch vụ. 123doc 9 Khoảng các 3: Tiêu chuẩn của chất lượng dịch vụ và dịch vụ được cung cấp trên thực tế có sự sai biệt và không đúng với những tiêu chí đã cam kết với khách hàng bởi người chuyển giao thực hiện. Khoảng cách 4: Những thông tin về CLDV đã được thông báo tới khách hàng không đúng những gì đã thực hiện. Những thông tin này sẽ làm giảm sự kỳ vọng của khách hàng về CLDV.
Những cam kết với khách hàng thông qua những chương trình quảng cáo cũng làm giảm đi sự kỳ vọng của khách hàng khi những lời quảng cáo đó không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với những gì đã cam kết. Khoảng cách 5: Là khoảng cách giữa CLDV mà khi người tiêu dùng nhận được một dịch vụ nào đó và chất lượng kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ đó. Chính vì thế, Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng “chất lượng dịch vụ chính là hàm số của khoảng cách thứ năm. Khoảng cách thứ năm này phụ thuộc vào các khoảng cách trước đó, nghĩa là các khoảng cách 1, 2, 3 và 4.
Vì thế, để làm tăng chất lượng dịch vụ, nhà quản trị dịch vụ phải nỗ lực rút ngắn các khoảng cách này”. Mô hình CLDV này được biểu diễn như sau : CLDV = F{KC5}=f(KC1,KC2,KC3,KC4) Trong đó: CLDV là chất lượng dịch vụ; KC1,2,3,4,5 là các khoảng cách: 1,2,3,4,5 123doc 10 Truyền miệng Nhu cầu cá nhân Kinh nghiệm quá khứ Kỳ vọng về dịch vụ KC5 Dịch vụ nhận được KC4 Cung cấp dịch vụ Thông tin tới khách hàng KC3 Các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ KC1 KC2 Nhận thức của tổ chức về kỳ vọng của khách hàng Hình 2.1: Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman Nguồn: dẫn theo Parasuraman và cộng sự (1985) 2. Nghiên cứu của Gi-Du Kang và Jeffrey James (2004) Gi-Du Kang và Jeffrey James (2004) đã xây dựng một mô hình về chất lượng dịch vụ dựa trên mô hình “chất lượng dịch vụ của Gronroos (1984) và mô hình SERQUAL của Parasuraman và cộng sự (1985, 1988)”. Theo Gi-Du Kang và Jeffrey James (2004), chất lượng dịch vụ bao gồm 3 thành phần chính: Chất lượng “kỹ thuật” (Technical quality); Chất lượng “chức năng” (Functional quality); và chất lượng “hình ảnh” (Image) của doanh nghiệp.
Gồm: Về kỹ thuật (Technical quality) có sự liên hệ đến khả năng phục vụ khách hàng hay những giá trị mà khách hàng thực sự nhận được. Chất lượng kỹ thuật được thể hiện qua các tiêu chí kỹ thuật nên có thể đo lường và đánh giá định lượng được. Chất lượng này là một căn cứ quan trọng để đánh giá CLDV. Ví dụ: khách hàng sẽ chờ đợi bao lâu để được phục vụ, dịch vụ sẽ được thực hiện 123doc 11 trong bao lâu là một yếu tố thuộc loại này.
Mức độ nhanh chóng, chính xác, an toàn của các dịch vụ viễn thông cũng thuộc loại chất lượng trên phương diện kỹ thuật. Về chức năng (Functional quality) được xem là cách thức mà chất lượng kỹ thuật được mang đến cho khách hàng. Chất lượng chức năng bao gồm các yếu tố sau cấu thành: “Sự tin cậy” (Reliability); “Sự đảm bảo” (Assurance); “Phương tiện hữ hình” (Tangibles); “Sự cảm thông” (Empathy); “Mức độ đáp ứng” các yêu cầu (Responsiveness). Yếu tố “hình ảnh” (Image): Hình ảnh của công ty, doanh nghiệp đóng vai trò như một bộ lọc trong quá trình cảm nhận về CLDV, là sự nhìn nhận và am hiểu của khách hàng về CLDV.
Mô hình này cho thấy có ảnh hưởng rất nhiều giữa sự cảm nhận về “hình ảnh” công ty với chất lượng “kỹ thuật” và chất lượng “chức năng” tới sự cảm nhận về CLDV. Mô hình giả định rằng CLDV sẽ tác động lên mối liên hệ giữa kỹ thuật, chức năng và hình ảnh công ty …tới sự cảm nhận về CLDV nơi khách hàng dẫn đến mức độ thoả mãn của khách hàng. Sự Tin tưởng Sự đảm bảo Chất lương Phương tiện chức năng hữu hình Sự cảm thông Chất lượng Sự Yếu tố dịch vụ hài Sự đáp ứng hình ảnh được cảm lòng nhận Chất lương kỹ thuật Hình 2.2: Mô hình CLDV của “Gi-Du Kang và Jeffrey James” Nguồn: Gi-Du Kang & Jeffrey James (2004) 123doc 12 2. Dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh (dịch vụ y tế công) 2.