Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương này giới thiệu về lý do hình thành đề tài, tính cấp thiết của đề tài, qua đó nêu lên mục tiêu mà đề tài hướng đến từ đó định hướng các đối 16 tượng, phạm vi nghiên cứu cũng như ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này trình bày những khái niệm, những nghiên cứu trước đây có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu và giả thuyết về các yếu tố chính tác động sự hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến tại tỉnh Khánh Hòa. Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu và cách thức tiến hành các phương pháp đó như: Phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp, các phương pháp phân tích, kiểm định mô hình thông qua các kỹ thuật thống kê truyền thống.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày các kết quả nghiên cứu định lượng thông qua các con số thống kê đã được xử lý thành thông tin hữu ích đối với nhà quản lý. Với việc trình bày, xử lý và mô tả dữ liệu thu thập được, tác giả đánh giá và kiểm định thang đo, kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu cũng như trả lời các câu hỏi nghiên cứu, các giả thuyết của mô hình nghiên cứu đề ra. Chương 5: Kết luận và kiến nghị.
Chương này trình bày các kết quả chính của đề tài và cũng nêu những hạn chế, hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. Cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm liên quan 2.
Chất lượng dịch vụ Theo truyền thống, chất lượng dịch vụ được xác định là sự khác biệt giữa mong đợi của khách hàng về dịch vụ được nhận và nhận thức về dịch vụ thực sự nhận được (Gronroos 1984; Parasuraman và Cộng sự, 1988, 1991). Các nhà nghiên cho rằng chất lượng dịch vụ đo lường là “không xác nhận” (sự khác biệt giữa nhận thức và kỳ vọng) là hợp lệ và mô hình đó cho phép các nhà cung cấp dịch vụ xác định khoảng trống nhất định trong dịch vụ được cung cấp (Wang, Yonggui, 2003). Lehtinen & Lehtinen (1982) cho rằng chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh, (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ. Gronroos (1984) cũng đề nghị hai thành phần của chất lượng dịch vụ, đó là (1) chất lượng kỹ thuật, đó là những gì mà khách hàng nhận được và (2) chất lượng chức năng, diễn giải dịch vụ được cung cấp như thế nào.
Tuy nhiên, khi nói đến chất lượng dịch vụ, chúng ta không thể nào không đề cập đến đóng góp rất lớn của Parasuraman & ctg (1988, 1991). Parasuraman & ctg (1988, trang 17) định nghĩa chất lượng dịch vụ là “mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ”. Các tác giả này đã khởi xướng và sử dụng nghiên cứu định tính và định lượng để xây dựng và kiểm định thang đo các thành phần của chất lượng dịch vụ (gọi là thang đo SERVQUAL). Thang đo SERVQUAL được điều chỉnh và kiểm định ở nhiều loại hình dịch vụ khác nhau, bao gồm 22 biến để đo lường năm thành phần của chất lượng dịch vụ, đó là: độ tin cậy (reliability), tính đáp ứng (responsiveness), tính đảm bảo (assurance), phương tiện hữu hình (tangibles) và sự đồng cảm (empathy).
Parasuraman & ctg (1991) khẳng định rằng 18 SERVQUAL là thang đo hoàn chỉnh về chất lượng dịch vụ, đạt giá trị và độ tin cậy, và có thể được ứng dụng cho mọi loại hình dịch vụ khác nhau. Dịch vụ hành chính công Thuật ngữ dịch vụ công (public service) được sử dụng rộng rãi ở các nước phát triển từ những năm 1980, song mới được sử dụng ở Việt Nam trong những năm gần đây. Có nhiều quan niệm khác nhau về dịch vụ công, tuy nhiên có thể hiểu “Dịch vụ công là hoạt động phục vụ các nhu cầu chung thiết yếu, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân do các cơ quan nhà nước thực hiện hoặc uỷ nhiệm cho các tổ chức phi nhà nước”. Dịch vụ hành chính công là hoạt động do các tổ chức hành hình thực hiện liên quan đến việc phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và phục vụ việc quản lý nhà nước, về cơ bản dịch vụ này do cơ quan nhà nước thực hiện (Nguyễn Hữu Hải & Lê Văn Hòa 2010), nói cách khác, dịch vụ hành chính công là loại dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân.
Đây là một phần trong chức năng quản lý nhà nước. Để thực hiện chức năng này, nhà nước phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch,. Theo Lê Chi Mai (2006): “Dịch vụ hành chính công là lọai hình dịch vụ công do cơ quan hành chính nhà nước cung cấp phục vụ yêu cầu cụ thể của công dân và tổ chức dựa trên qui định của pháp luật. Các công việc do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện nằm trong phạm trù dịch vụ công, thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, trong mối quan hệ này công dân thực hiện dịch vụ này không có quyền lựa chọn mà phải nhận những dịch vụ bắt buộc do nhà nước qui định.
Sản phẩm của dịch vụ dưới dạng phổ biến là các lọai văn bản mà tổ chức, cá nhân có nhu cầu được đáp ứng”. Trong nghiên cứu của mình, Lê Chi Mai (2006) cho rằng: “Dịch vụ hành 19 chính công do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện thông qua hai chức năng cơ bản: Chức năng quản lý nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và chức năng cung ứng dịch vụ công cho tổ chức và công dân. Nói cách khác, Dịch vụ hành chính công là những họat động phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính pháp lý nhà nước”. Hiện nay, trên thế giới, Một số nước sử dụng khái niệm “dịch vụ công” thay cho khái niệm “dịch vụ hành chính công” cho tất cả các loại hình dịch vụ, tuy nhiên họ vẫn đồng ý với quan điểm rằng các dịch vụ công do cơ quan hành chính nhà nước cung ứng cho công dân và tổ chức.
Theo Nghị định số 43/2011/NĐ-CP của Chính phủ (Quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước), “dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý.” Mỗi dịch vụ hành chính công gắn liền với một thủ tục hành chính để giải quyết hoàn chỉnh một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân. Qua những phân tích nêu trên có thể kết luận, dịch vụ hành chính công là những hoạt động phục vụ lợi ích chung, thiết yếu hoặc tạo điều kiện cho việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính – pháp lý của nhà nước theo nguyên tắc bình đẳng, không vì mục đích lợi nhuận trên cơ sở nhu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm thiết lập, duy trì và bảo vệ trật tự quản lý hành chính nhà nước. Chất lượng dịch vụ công trực tuyến 2.1 Dịch vụ công trực tuyến 20 Dịch vụ công trực tuyến được quy định tại Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2011 về ban hành Quy định về việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước như sau: “Là dịch vụ hành chính công và các dịch khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng”. Tại Điều 3, Thông tư số 26/2009/TT-BTTTT ngày 31/7/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông nêu rõ quy định các mức độ dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam của cơ quan hành chính nhà nước bao gồm 4 mức để cung cấp cho tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng: Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: Các thông tin về quy trình, hồ sơ, thủ tục, thời hạn, lệ phí thực hện dịch vụ được cung cấp đầy đủ tại dịch vụ công trực tuyến mức độ 1.
Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: bao gồm dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 và cho phép người sử dụng thao tác tải các khai báo, các mẫu văn bản để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu. Sau khi đã hoàn thiện hồ sơ người sử dụng gửi lại cho cơ quan tổ chức cung cấp dịch vụ thông quan hai hình thức: gửi trực tiếp hoặc gửi quan đường bưu điện. Dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3: bao gồm dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 và cho phép người sử dụng khai báo thông tin và gửi trực tuyến các văn bản đã hoàn thành đến các tổ chức, cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ. Mọi hoạt động giao dịch xử lý hồ sơ đều được hoàn thành trên môi trường mạng.
Bước cuối cùng là thanh toán lệ phí (nếu có), người dùng cần trực tiếp đến tổ chức, cơ quan cung cấp dịch vụ để hoàn thành và nhận kết quả. Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: bao gồm dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3. Dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 sẽ cho phép người dùng thanh toán lệ phí (nếu có) trực tiếp trên internet. Người dùng có thể nhận lại kết quả theo 3 hình thức: gửi qua đường bưu điện, gửi trực tiếp hoặc gửi trực tuyến.2 Chất lượng dịch vụ công trực tuyến Phối hợp từ bối cảnh ra đời của Internet và các nghiên cứu trước đây về chất lượng dịch vụ truyền thống, khái niệm chất lượng dịch vụ trực tuyến (DVTT - E-SERVQUAL) ra đời.
Nhưng câu hỏi về tính khả dụng của thang đo chất lượng dịch vụ truyền thống trong DVTT đã gây tranh luận giữa các nhà nghiên cứu hàn lâm.