đặt vấn đề quản lý chặt việc sử dụng đất lúa để xât dựng khu công nghiệp, khu đô thị. - Đảm bảo an ninh lương thực đối với nước ta có dân số đông, diện tích đất đai (đặc biệt là sản xuất nông nghiệp có diện tích hạn chế). Để đảm bảo an ninh lương thực, chúng ta cần có những giải pháp cả vĩ mô và vi mô, từ những giải pháp trong sản xuất, chế biến nông sản, cung ứng các sản phẩm vật tư nông nghiệp cho đến việc lưu thông nông sản hàng hóa… - Giải quyết tốt về mối quan hệ giữa tập trung ruộng đất và chính sách hạn điền Việc tập trung ruộng đất quá nhanh, thiếu quy hoạch,chưa đủ điều kiện sẽ gây nên tình trạng nhiều nông dân nghèo không còn đất sản xuất. Để giải quyết mâu thuẫn này, Nhà nước cũng luôn xem xét tới vấn đề hạn điền, tức là hạn mức diện tích đặt ra cho mỗi hộ gia đình, cá nhân được sử dụng nhằm điều chỉnh tiến độ tập trung ruộng đất cho phù hợp với từng thời kỳ.
Đầu năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1126/2007/NQ-UBTVQH11 ngày 21/6/2007 quy định về hạn mức nhận chuyển quyền Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 9 sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, mức cụ thể bao gồm: + Đối với đất sản xuất nông nghiệp trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối là 6 ha cho các tỉnh thuộc Nam Bộ và 4 ha cho các tỉnh còn lại; + Đối với đất sản xuất nông nghiệp trồng cây lâu năm là 20 ha đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng và 50 ha đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du và miền núi; + Đối với đất rừng sản xuất là rừng trồng là 50 ha đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng và 100 ha đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du và miền núi. Tuy nhiên theo quy định tại điều 129 [17] và 130[17] luật đất đai 2013 đã khắc phục một số bất cập trong mối quan hệ giữa tập trung ruộng đất và chính sách hạn điền, quy định cụ thể: Hạn mức giao đất Hạn mức giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp như sau: + Không quá 03 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long; + Không quá 02 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác. Hạn mức giao đất trồng cây lâu năm cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 10 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 30 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi. Hạn mức giao đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 30 héc ta đối với mỗi loại đất: + Đất rừng phòng hộ; + Đất rừng sản xuất.
- Vấn đề thu hồi đất , đền bù, hỗ trợ và tái định cư Trong quá trình phát triển, cần huy động quỹ đất khá lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, các đô thị. Quá trình này không chỉ làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất mà kéo theo việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất. Quá trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho người bị thu hồi đất, mặc dầu đã có nhiều cố gắng, song vẫn còn khá nhiều vấn đề cần giải quyết: + Cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện sỡ hữu toàn dân về đất đai và quyền của người sử dụng đất đã được pháp luật Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 10 công nhận trong việc thu hồi đất. Chúng ta mới chỉ nhấn mạnh việc tạo quỹ đất mà chưa quan tâm đầy đủ lợi ích chính đáng của người sử dụng đất (đặc biệt trong việc định giá đất bồi thường và giá đất tái định cư).
+ Cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích của xã hội với lợi ích của người có đất bị thu hồi. Thường nhấn mạnh đến tính cấp thiết của việc giải phóng mặt bằng mà chưa chú ý đúng mức đến những vấn đề xã hội nảy sinh sau khi thu hồi đất (phương án đảm bảo tái định cư, đảm bảo sinh kế và việc làm cho người bị thu hồi đất). + Chưa giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa nhà đầu tư (cần đất) và người bị thu hồi đất, thường nhấn mạnh đến môi trường đầu tư, nóng vội giải phóng mặt bằng để giao đất, cho thuê đất. Việc quy định giá đất quá thấp so với giá thị trường tuy có tác động tích cực đến nhà đầu tư, song lại gây ra những phản ánh gay gắt từ phí những người bị thu hồi đất.
- Vấn đề quỹ đất công ích Những vấn đề đặt ra đối với đất công ích: +Quỹ đất công ích không đồng đều giữa các địa phương (do quan điểm của chính quyền địa phương, do phong tục tập quán). + Quản lý đất công ích không đúng quy định, sử dụng không hiệu quả + Vị trí đất công ích không thuận lợi. Nhiều địa phương chỉ có đất công ích trên giấy tờ, thực tế chia đều cho dân dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý (quá trình đầu tư, giải phóng mặt bằng, thống kê, kiểm kê…). - Giải quyết các tồn tại lịch sử quan hệ đất đai Việt Nam có một lịch sử quan hệ đất đai khá phức tạp cả về quá trình thay đổi chế độ sở hữu, cả về quá trình điều chỉnh chính sách cho phù hợp với mục tiêu của từng giai đoạn cách mạng, cả về các quyết định hành chính về đất đai phục vụ nhu cầu sử dụng của cơ quan nhà nước và cả về quá trình hình thành và đổi mới hệ thống quản lý.
Các vấn đề do lịch sử trong quản lý đất đai bao gồm: + Nhà nước trưng dụng nhà và đất nhưng quyết định không rõ ràng (là tịch thu hay trưng mua, trưng dụng), nhiều quyết định có sai sót so với chính sách,… + Nhà nước đã quyết định trưng mua nhà theo đúng chính sách nhưng chưa trả tiền cho người bị trưng mua. + Nhà nước có quyết định giao đất, nhà vắng chủ cho người mới nhưng chủ cũ lại vắng vì tham gia kháng chiến, nay hoàn thành nhiệm vụ trở về không có đất, nhà để sử dụng. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 11 + Việc bỏ qua công tác quản lý đất đai nên xảy ra nhiều hiện tượng lấn chiếm, mua bán bất hợp pháp, không hợp lệ dẫn đến thiếu hồ sơ chứng minh tính hợp pháp. - Vấn đề nhà ở và nhà ở cho người có thu nhập thấp Những vấn đề đặt ra và đối với nhà ở và nhà ở cho người thu nhập thấp: + Hầu hết người nghèo (có thu nhập thấp) luôn có nhu cầu về nhà ở gắn liền với đất để sản xuất, dịch vụ trong khuôn khổ kinh tế hộ gia đình do vậy rất khó để giải quyết nhà ở loại này theo hướng khu chung cư tập trung.
+ Các khu chung cư chưa được quản lý phù hợp, chuyên nghiệp, phân bổ giá đất cho các tầng bất hợp lý. + Hệ thống đăng ký, cấp GCN cho đất nhà ở còn nhiều điểm chưa phù hợp nên chưa quản lý quỹ nhà ở minh bạch, công khai theo hướng thị trường. - Vấn đề môi trường Một trong những tiêu chí quan trọng của việc sử dụng tài nguyên đất là mang lại hiệu quả về môi trường. Trước hết là bảo đảm việc tăng diện tích phủ rừng đạt tiêu chuẩn để làm giảm khí thải nhà kính, giảm lũ lụt, chống hủy hoại môi trường đất.
Tiếp theo là việc quy hoạch hợp lý các khu công nghiệp, chất thải sinh hoạt nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường đất và nước. Đất đai đối với ổn định chính trị ở Việt Nam - Quá trình bảo vệ đất đai là quá trình bảo vệ cương vực lãnh thổ Năm 1834, vua Minh Mạng nhà Nguyễn đã ra tuyên ngôn về đất nước Việt Nam thống nhất bằng tấm bản đồ “Việt Nam Nhất thống Toàn đồ, thể hiện cương vực của đất nước từ đỉnh Lũng Cú ở cực Bắc cho tới mũi Cà Mau ở cực Nam bao gồm cả vùng biển, đảo rộng lớn. Khẩu hiệu “ruộng đất về tay nông dân” được nêu cao ngay từ ngày Đảng ta mới thành lập và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. - Tình hình khiếu kiện về đất đai tăng lên và biện pháp giải quyết Ở nước ta, một nước đang phát triển, có nền kinh tế chuyển đổi, đang thực hiện công nghiệp hóa, do một thời gian quá dài buông lỏng quản lý đất đai; nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao để đầu tư công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giá đất tăng cao do tác động của thị trường; xu hướng phân hóa giàu – nghèo ngày càng tăng; năng lực quản lý đất đai chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế nên đã nảy sinh tình trạng tranh chấp, khiếu nại, tố cáo của dân về đất đai ngày càng phức tạp.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 12 Về số lượng vụ việc khiếu kiện về đất đai hiện nay đã chiếm tỷ lệ tới một nửa tổng số khiếu kiện về hành chính. Từ những bất cập trên, có thể thấy cần thực hiện các giải pháp đổi mới để giải quyết tốt vấn đề tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai. Giải pháp thứ nhất là cần có hướng dẫn cụ thể, chi tiết về áp dụng pháp luật trong việc giải quyết để tránh đi tất cả mọi kẽ hở, xung đột, thiếu đồng bộ trong các luật hiện nay có liên quan đến đất đai. Giải pháp thứ hai là cần thiết phải thành lập hệ thống cơ quan tài phán hành chính về đất đai theo ngành dọc nhằm tăng cường chất lượng, hiệu lực và hiệu quả trong giải quyết.
Giải pháp thứ ba là kiện toàn hơn nữa bộ máy hành chính ở cấp huyện và cấp xã sao cho cán bộ quản lý hiểu được mình chỉ là công bộc của dân, cơ quan hành chính có trách nhiệm trước hết là phục vụ nhu cầu của người dân.