Chương 1 trình bày khái quát về đề tài đang nghiên cứu thông qua lý do thực hiện đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu tổng quan. Những nội dung này sẽ cơ sở cho việc nghiên cứu chi tiết hơn về cơ sở lý thuyết liên quan và mô hình nghiên cứu trong chương tiếp theo. Luan van 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Dịch vụ công 2.
Khái niệm dịch vụ công Có nhiều khái niệm từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau định nghĩa về dịch vụ công. Từ điển Petit Larousse (1995) định nghĩa dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do một cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm. Dịch vụ công theo Lê Chi Mai (2002) đó là hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước và bảo đảm cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ những nhu cầu chung và mang tính thiết yếu của xã hội. Theo tài liệu Bộ nội vụ (2013) dịch vụ công được hiểu như sau: Về nghĩa rộng, dịch vụ công được định nghĩa đó là những dịch vụ nhằm mục tiêu đem lại hiệu quả và công bằng mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp.
Như vậy, dịch vụ công là những hoạt động bao gồm từ các hoạt động từ ban hành chính sách, pháp luật, toà án… cho đến những hoạt động giao thông, y tế, giáo dục… nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Chính phủ. Về nghĩa hẹp, dịch vụ công là những dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của các tổ chức và công dân mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục đích đem lại hiệu quả và công bằng. Tóm lại, dịch vụ công là hoạt động của cơ quan nhà nước, hoạt động không phải vì mục đích kinh doanh, vụ lợi mà vì phục vụ nhu cầu thiết yếu của toàn dân. Đặc trưng cơ bản dịch vụ công Theo Vũ Trí Dũng (2014), dịch vụ công có 4 đặc trưng cơ bản.
Đặc trưng thứ nhất đó là những hoạt động phục vụ cho lợi ích chung cần thiết, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân. Đặc trưng thứ hai, dịch vụ công do Nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội trực tiếp hoặc ủy nhiệm cung ứng. Đặc trưng thứ ba, dịch vụ công là các hoạt động phục vụ trực tiếp, đáp ứng nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa Luan van 7 vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân. Đặc trưng cuối cùng, dịch vụ công nhằm bảo đảm tính hiệu quả, công bằng trong cung ứng dịch vụ.
Phân loại dịch vụ công Theo Vũ Trí Dũng (2014), dịch vụ công được phân thành 3 loại dựa theo căn cứ vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng. Loại thứ nhất là dịch vụ sự nghiệp công: Gồm các hoạt động phúc lợi xã hội thiết yếu cho nhân dân như văn hóa, y tế, thể dục thể thao, giáo dục, khoa học, bảo hiểm, an sinh xã hội… Loại thứ hai là dịch vụ hành chính công: Gồm các chức năng quản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân, đó là các hoạt động phục vụ trực tiếp như cấp giấy chứng nhận, đăng ký, giấy phép, công chứng, hộ tịch, thị thực,… Cuối cùng là dịch vụ công ích: Bao gồm cung cấp các hàng hóa, dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân như: Phòng chống thiên tai, vệ sinh môi trường, cấp nước sạch, vận tải công cộng… chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện. Chất lượng dịch vụ công Thuật ngữ chất lượng được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt, đó là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) … làm cho sự việc này phân biệt với sự việc khác.
Bovaird và Löffler (1996) đã đưa ra bốn khái niệm của chất lượng. Khái niệm đầu tiên, chất lượng là “sự phù hợp với mục đích”. Khái niệm thứ hai, chất lượng là “sự đáp ứng những mong đợi của khách hàng”. Khái niệm thứ ba, chất lượng là “sự quy định chi tiết”.
Khái niệm thứ tư, chất lượng là “sự bao hàm cảm xúc nhiệt tình”. Zeithaml và cộng sự (1993) cho rằng khái niệm chất lượng dịch vụ đó là sự đánh giá của khách hàng về sự tuyệt vời và tính siêu việt nói chung của một dịch vụ. Đó là một kiểu của thái độ và các hệ quả từ sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ nhận được. Khi nói đến chất lượng dịch vụ, Parasuraman và cộng sự (1985) có những đóng góp rất to lớn đối với chất lượng dịch vụ.
Chất lượng dịch vụ là “sự đánh giá hay thái độ chung về sự ưu tú toàn diện của dịch vụ”. Do đó, chất lượng dịch vụ là sự khác biệt giữa mong đợi với nhận thức về dịch vụ được cung cấp. Luan van 8 Theo Nitecki và cộng sự (2000), khái niệm chất lượng dịch vụ chính là sự đáp ứng hay vượt mức mong đợi của khách hàng, hoặc đó là sự khác biệt giữa nhận thức của khách hàng với mong đợi của dịch vụ. Như vậy, chất lượng dịch vụ công có thể xem là thái độ chung của các tổ chức và công dân đối với các hoạt động do nhà nước đảm nhận hay ủy nhiệm cho các đơn vị khác thực hiện vì lợi ích chung cần thiết, quyền và nghĩa vụ cơ bản của họ.
Sản phẩm dịch vụ công có tính vô hình, rất khó để đánh giá đúng chất lượng về bản chất. Dịch vụ kê khai thuế qua mạng 2. Khái niệm kê khai thuế qua mạng Theo Luật Quản lý thuế (2019), khái niệm kê khai thuế đó chính là nghĩa vụ phải thực hiện mà tất cả người nộp thuế bao gồm tổ chức lẫn cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc kê khai thuế phải thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế.
Theo đó, người kê khai thuế phải khai báo một cách chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế được quy định theo mẫu do Bộ Tài chính và nộp đầy đủ các chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế. Về nội dung kê khai, cho dù người nộp thuế kê khai thuế theo hình thức nào đi nữa thì việc kê khai phải đảm bảo đầy đủ các thông tin cơ bản. Đối với khái niệm kê khai thuế qua mạng đó là việc người nộp thuế lập hồ sơ khai thuế trên máy tính và gửi hồ sơ đến cơ quan thuế trực tiếp quản lý bằng mạng internet mà không cần phải thông qua bước gửi hồ sơ bằng giấy cho cơ quan thuế trực tiếp hay gián tiếp. Người nộp thuế thực hiện kê khai thuế tại địa chỉ website Tổng cục Thuế quy định thay vì phải đến cơ quan thuế để nộp tờ khai giấy.
Đây là một loại dịch vụ công mà cơ quan thuế cung cấp để hỗ trợ người nộp thuế một cách nhanh chóng và tiết kiệm chi phí. Sự cần thiết của việc áp dụng kê khai thuế qua mạng Đối với Cơ quan thuế Trong những năm qua, ngành Thuế đã có nhiều cải cách đột phá, được cộng đồng doanh nghiệp, tổ chức quốc tế ghi nhận. Tổng cục Thuế tiếp tục thực hiện triển khai 10 dịch vụ công trực tuyến, nhiều website bao gồm tra cứu thông tin người nộp thuế, Luan van 9 hỏi đáp chính sách thuế, dịch vụ hỗ trợ nộp tờ khai thuế thu nhập cá nhân online, hồ sơ khai thuế qua mạng, tra cứu hóa đơn… Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, số lượng doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng, điều này làm cho khối lượng công việc của cán bộ thuế ngày càng tăng dẫn tới tình trạng chen lấn quá tải, dồn ứ cục bộ tại bộ phận một của các ngày cuối của hạn nộp nộp tờ khai làm tốn thời gian và chi phí của doanh nghiệp. Ngoài ra, sự gia tăng về các sắc thuế (thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đát phi nông nghiệp, thuế bảo vệ môi trường,…) việc tiếp nhận thủ công tất cả các hồ sơ khai thuế sẽ cần rất nhiều cán bộ thuế tham gia tiếp nhận gây ra nhiều khó khăn, bất cập như lãng phí về thời gian, công sức, tiềm ẩn các lỗi nhập liệu.
Do vậy, đối với công tác cải cách và hiện đại hóa ngành thuế thì khai thuế qua mạng là một nội dung vô cùng quan trọng. Đây là một trong những giải pháp thiết thực nhằm giảm tình trạng quá tải cho các cơ quan thuế mỗi khi đến kỳ hạn nộp hồ sơ khai thuế cũng như giảm thời gian, nhân lực tiếp nhận tờ khai, đặc biệt là giảm rất nhiều chi phí cho lưu trữ hồ sơ khai thuế. Tóm lại, có thể nói kê khai thuế qua mạng internet đóng vai trò không thể thiếu trong giai đoạn hiện nay nhằm từng bước hiện đại hóa ngành thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, giảm áp lực cho ngành thuế, đáp ứng yêu cầu của xã hội. Đối với người nộp thuế Đối với tổ chức doanh nghiệp, việc quản lý thuế của cơ quan thuế phải đơn giản, thuận tiện thì doanh nghiệp được hưởng nhiều lợi ích từ kê khai thuế qua mạng: Thứ nhất, kê khai thuế qua mạng không giới hạn thời gian, không phụ thuộc vào thời gian làm việc của cơ quan thuế, có thể gửi hồ sơ kê khai 24/24 giờ trong ngày, tại mọi địa điểm có kết nối mạng internet.
Thứ hai, hệ thống tổ chức lưu trữ lâu dài, có tính pháp lý cao. Thứ ba, giảm chi phí in ấn giấy tờ (đặc biệt là đối với những doanh nghiệp có bảng kê với số lượng hóa đơn sử dụng lớn), không mất thời gian làm thủ tục in dấu và thời gian đi nộp hồ sơ kê khai. Luan van 10 Thứ ba, người nộp thuế khi kê khai sẽ được cung cấp thêm nhiều tính năng mới thông qua cơ quan thuế như trong trường hợp mất tờ khai thuế có thể đề nghị lên cơ quan thuế đề xuất cung cấp lại hồ sơ. Thứ tư, mọi hình thức từ việc kê khai qua mạng là tự động xử lý các thông tin vì thế sẽ giúp tránh những sai sót không đáng có.
Thứ năm, lưu trữ được nhiều hồ sơ theo một cách có hệ thống tạo điều kiện cho doanh nghiệp dễ theo dõi cũng như tiện trong việc kê khai. Điều kiện thực hiện kê khai thuế qua mạng Theo quy định tại Điều 5 Thông tư 180/2010/TT-BTC, các doanh nghiệp thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế phải đảm bảo các điều kiện sau: Thứ nhất, doanh nghiệp có chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cấp và vẫn đang còn hiệu lực.