Mở đầu. 3 Luan van - Chương 2: Tổng quan. - Chương 3: Cơ sở lý thuyết - Chương 4: Mô hình thực nghiệm. - Chương 5: Tính toán, thiết kế giường.
- Chương 6: Chế tạo mô hình thử nghiệm. - Chương 7: Kết luận và kiến nghị. 4 Luan van Chương 2: TỔNG QUAN 2.1 Bệnh hoại tử 2.1 Khái niệm về bệnh hoại tử Hoại tử là tình trạng các mô cơ thể chết đi. Điều này rất nghiêm trọng và có khả năng đe dọa tới tính mạng.
Hoại tử có thể xảy ra sau một cơn chấn thương hoặc nhiễm trùng, ngoài ra cũng có thể xảy ra ở những người mắc chứng bệnh ảnh hưởng đến tuần hoàn máu mãn tính. Có nhiều loại hoại tử khác nhau với các triệu chứng khác nhau như hoại tử khô, hoại tử ướt, hoại tử khí, hoại tử nội… Nguyên nhân dẫn đến tình trạng hoại tử là do việc giảm lượng máu cung cấp tới các mô, khiến các tế bào bị chết. Trường hợp những người mắc bệnh tiểu đường hoặc hút thuốc lá quá thường xuyên thì nguy cơ bị hoại tử cũng cao hơn.2 Phân loại hoại tử Hoại tử là một thuật ngữ dùng để mô tả tế bào chết không kiểm soát được, sự chết này do nhiều nguyên nhân tác hại khác nhau. Có thể phân loại ra thành hai loại hoại tử chính là hoại tử đông và hoại tử nước và một số hoại tử khác.
Hoại tử đông: hoại tử đông là loại hoại tử trong đó protein biến tính là nổi bật hơn so với sự biến tính của các enzym. Thường xảy ra ở tim, thận và lách. 5 Luan van Hình 2.1: Hoại tử đông ở thận Hoại tử nước: hoại tử nước xảy ra trong đó các sự phân hủy enzym nổi bật hơn so với sự biến đối của các protein. Thường xảy ra ở mô não sau nhồi máu hoặc chấn thương và tụy có nồng độ men cao.2: Hoại tử nước ở não Hoại tử mỡ: Một thuật ngữ dùng cho một sự thay đổi trong mô mỡ do chấn thương hay sự phóng các enzym từ các cơ quan lân cận.3: Hoại tử mỡ Hoại tử bã đậu: Hoại tử bã đậu giống “bã đậu” do viêm lao.
6 Luan van Hình 2.4: Hoại tử bã đậu ở hạch rốn phổi 2.3 Điều trị loét da tỳ đè ở người nằm lâu, liệt, ít vận động. Loét tỳ đè là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây kéo dài thời gian nằm viện, làm tăng chi phí điều trị, thời gian chăm sóc ở những bệnh nhân nằm lâu, liệt, ít vận động. Nếu không điều trị kịp thời và đúng cách sẽ có nguy cơ tử vong cao. Bệnh nhân loét tỳ đè trong vòng 6 tuần nằm viện thì nguy cơ tử vong cao gấp 3 lần.
Vì thế, việc điều trị các vết loét do tỳ đè, nằm lâu cần phải thực hiện càng sớm càng tốt nhưng cũng phải đúng phương pháp.5: Các vị trí dễ bị hoại tử khi nằm bất động Để chăm sóc và điều trị đúng phương pháp, các nhân viên y tế và người nhà bệnh nhân cần hiểu rõ về phân loại cấp độ loét da do tỳ đè. 7 Luan van Phân loại giai đoạn loét tỳ đè: Loét tỳ đè được phân ra thành các cấp độ dựa trên đánh giá mức độ tổn thương mô. Theo hội đồng quốc gia về vết loét tại Hoa Kì đưa ra năm 1989: loét tỳ đè có 4 độ. [12] - Độ 1: Vùng da tỳ đè nổi lên vết rộp màu hồng.
- Độ 2: Tổn thương không hoàn toàn chiều dày lớp da bao gồm thượng bì và lớp đáy. - Độ 3: Tổn thương hoàn toàn chiều dày, bề dày của lớp da, tổ chức dưới da đã bị tổn thương. - Độ 4: Hoại tử toàn bộ lớp da có khi giới hạn, có khi lan rộng đến cả vùng cơ, xương, khớp. Tìm hiểu thêm về phân loại loét tỳ đè theo giai đoạn và cấp độ tại: loét tỳ đè là gì, nguyên nhân và phân loại cấp độ loét Xử lý và điều trị vết loét do tỳ đè.
Theo thống kê, loét tỳ đè độ 1 và 2 có thể chữa lành nếu biết cách xử lý và chăm sóc đúng cách. Loét độ 3 và 4 cần can thiệp ngoại khoa, cắt gọi vùng thịt và xương đã bị hoại tử sau đó đóng kín vết loét. [12] Xử lý và điều trị vết loét tỳ đè cấp độ 1 và 2 ta có thể chữa lành vết loét nếu chăm sóc đúng cách mà không cần đến phẫu thuật hay can thiệp của bác sĩ. Quá trình liền vết thương chậm là do sự bội nhiễm, các vi khuẩn tiêu diệt tế bào dẫn tới loét, có thể là hoại tử.
Vì thế điều trước tiên cần phải làm là rửa sạch vết loét: - Dùng gạc vô trùng lau chùi nhẹ nhàng vết loét để lại bỏ dịch mô, mủ, các chất thải sinh ra trong chuyển hóa, tế bào chết, tế bào hoại tử vì chúng gây cản trở quá trình làm lành vết thương. Chấm nhẹ để làm sạch mà không gây tổn thương vết loét. - Sử dụng nước muối sinh lý 0,9% để rửa sạch vết loét (tuyệt đối không nên sử dụng các dung dịch kháng khuẩn vì nó có thể phá hủy các tế bào bình thường khác). - Băng và bảo vệ vết loét: Hiện nay, ta có thể sử dụng băng vết thương dạng xịt Nacurgo để bảo vệ vết loét ngăn thấm nước, ngừa vi khuẩn, làm lành nhanh vết loét từ 3 - 5 lần bằng công nghệ màng sinh học tự phân hủy Polyesteramide, ta 8 Luan van không cần phải thay tháo băng gây đau đớn và tổn thương vết loét do màng sinh học tự phân hủy, chỉ cần xịt lớp màng mới sau 4 - 5 tiếng.
Vết loét sẽ tiến triển tích cực bắt đầu từ dấu hiệu khô bề mặt và lành dần. - Cần phải xoa bóp xung quanh vết loét để cải thiện tuần hoàn khu vực bị tổn thương điều này có ý nghĩa quan trọng đối với qúa trình điều trị.6: Xoa bóp cho bệnh nhân Điều trị vết loét ở cấp độ 3 và 4: Ở 2 cấp độ sau cùng, khi đã có tổn thương sâu và hoại tử, việc can thiệp ngoại khoa là cần thiết.Cần cắt bỏ những chỗ có da lột và mô hoại tử, việc cắt lọc nhằm loại bỏ các tổ chức hoại tử và bị nhiễm khuẩn, có thể thực hiện cắt gọt ngay tại giường hay tại phòng mổ. Cắt gọt sẽ làm rộng vết loét một khoảng cho phép, nhưng nó lại làm giảm độ tập trung vi khuẩn ở vết thương và loại bỏ mô hoại tử, việc cắt lọc làm tăng cường quá trình liền thương và giảm nguy cơ nhiễm trùng lan rộng vì các tổ chức hoại tử rất dễ nhiễm khuẩn và là nguyên nhân gây ra viêm tế bào, tổn thương ăn sâu hơn vào xương. Sau khi cắt gọt, cần phải băng và bảo vệ vùng tế bào bị lộ ra ngoài.
Băng vết thương dạng xịt Nacurgo là một giải pháp hiệu quả để bao phủ bảo vệ vùng thương tổn tránh sự xâm nhập của vi khuẩn và thúc đẩy quá trình lành thương. 9 Luan van Biện pháp ghép da có thể được chỉ định để sử dụng, tuy nhiên cũng chỉ áp dụng được trong 30% trường hợp, thường ở những tổn thương khu trú và nông. Các phương pháp khác như là sử dụng các vạt da cân, vạt da cơ để che phủ các ổ loét rộng, ưu điểm của các vạt da cơ là cung cấp lượng lớn tổ chức có nguồn cấp máu nuôi tốt, tính chất tổ chức ổn định, giảm đến mức tối thiểu các biến đổi chức năng ở vùng kế cận. Cách tốt nhất để tránh được những vết loét và biện pháp can thiệp ngoại khoa ở những bệnh nhân liệt, nằm lâu là dự phòng và xử lý vết loét ở những dấu hiệu đầu tiên.4 Cách dự phòng loét ép Phải thực hiện ba nguyên tắc sau để máu dễ lưu thông: - Giữ gìn da sạch và khô nhất là những vùng bị tỳ đè dễ có nguy cơ bị loét ép.
- Thường xuyên xoa bóp những vùng dễ bị loét ép. - Thường xuyên thay đổi tư thế người bệnh, tối đa 2 giờ một lần. Giữ gìn da khô sạch, phát hiện vùng dễ bị loét ép: - Hằng ngày quan sát vùng dễ bị loét ép. - Lau rửa bằng nước ấm những vùng bị ẩm ướt, vùng mông của những người đại, tiểu tiện không tự chủ.
- Sau đó lau khô lại những vùng đó. Thay đổi tư thế: - Thay đổi tư thế người bệnh ít nhất là hai giờ một lần. Phải thay đổi càng nhiều vị trí càng tốt, tuy nhiên khó thực hiện.Nằm sấp là một phương pháp có hiệu quả để giảm sức ép lên khung xương của phần lưng, khi nằm sấp phải đảm bảo đường thông khí không bị cản trở và nằm ở vị trí thoải mái. Ngồi cũng là phương pháp được áp dụng để thay đổi trọng lượng và sức ép nếu người bệnh có thể ngồi được.
- Cho người bệnh nằm trên đệm nước là phương pháp tốt nhất hiện nay và đang áp dụng rộng rãi để phòng chống loét. Khi người bệnh nằm trên đệm nước, sẽ không có vị trí nào của cơ thể bị tì đè vào vật cứng, mà phân phối đều trên bề mặt của đệm 10 Luan van nước nên tránh được loét ép. Khi ta dùng tay ấn vào bất kỳ vị trí nào của đệm nước thì nước trong đệm sẽ di chuyển mọi hướng làm cho người bệnh luôn ở tư thế vận động, có tác dụng như thay đổi tư thế người bệnh. - Nếu không có đệm nước thì có thể dùng vòng hơi cao su.
Đặt vòng hơi cao su dưới mông của người bệnh. Lót gối ở vai nếu người bệnh nằm nghiêng. Đặt vòng bông ở những ụ xương khác, như mắt cá, gót chân, … Vòng hơi và vòng bông hiện nay ít sử dụng và không đem lại hiệu quả phòng chống loét. Xoa bóp: - Xoa bóp có tác dụng kích thích tuần hoàn có thể áp dụng ngay cả trường hợp trợt biểu bì hoặc có hoại thư.
- Rửa sạch vùng định xoa bóp bằng xà phòng, lau khô sau đó xoa từ vùng có bắp cơ dày đến vùng dễ bị loét ép. - Xoa khoảng 15 phút mỗi ngày 1 đến 2 lần. - Có thể kết hợp với tập cho người bệnh nhân cử động để tránh tư thế xấu cho người bệnh về sau.2 Các nghiên cứu liên quan tới đề tài 2.1 Nghiên cứu ngoài nước 2.1 Smart bed system US 20080126132 A1 Công trình của Adrian F. Suchecki, công bố ngày 29 tháng 5 năm 2008, trình bày về hệ thống giường được điều khiển thông qua máy tính với sự giám sát của một hoặc nhiều thiết bị giám sát [9].
11 Luan van Hình 2.7: Smart bed system US 20080126132 A1 Ưu điểm: - Phân chia rõ ràng trong việc chăm sóc bệnh nhân. - Dễ dàng kiểm soát quá trình chăm sóc bệnh nhân.