chương 1 Tình hình CW hiện nay đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng không chỉ ở Việt Nam mà còn nhiều nơi trên thế giới. Sự phát triển nhanh chóng của đô thị dẫn đến ngành xây dựng cũng phát triển theo. Việc xây dựng, cải tạo, sữa chữa sẽ tạo ra lượng CW ngày càng tăng lên đáng kể. Hiện nay, quản lý chất thải xây dựng (CWM) vẫn còn nhiều hạn chế.
Chất thải xây dựng thường được xử lý không đúng cách, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng. Theo số liệu được đề cập trong chương này, cho thấy lượng CW trong và ngoài nước chiếm đáng kể tổng số lượng chất thải rắn. Vì vậy, việc xác định các yếu tố giảm thiểu chất thải xây dựng cần thiết và là cơ sở để xây dựng các quy trình quản lý giảm thiểu chất thải xây dựng. Mục tiêu chính của đề tài là xác định các yếu tố giảm thiểu và đánh giá mức độ tác ảnh hưởng của các yếu tố đến việc CDWR.
Về mặt thực tiễn, nghiên cứa cũng đưa ra tình hình của CW hiện nay và cần phải giảm lượng CW, góp phần bảo vệ môi trường, tiết kiệm chi phí cho dự án, hướng đến bền vững cho ngành xây dựng. Về mặt khoa học, nghiên cứu thực hiện khảo sát, thống kê mô tả, sử dụng các phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), SEM để đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến việc giảm thiểu chất thải xây dựng được trình bày chi tiết trong chương 4. Luận văn thạc sĩ HVTH: Đặng Quốc Bảo - 2070532 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.Các định nghĩa và khái niệm Chất thải rắn là chất thải ở dạng rắn, bị thải ra từ quá trình sản xuất, dịch vụ, kinh doanh, sinh hoạt hàng ngày hoặc các hoạt động khác. Ví dụ: vỏ chai lọ, hộp nhựa, cao su, giấy, thủy tinh, sắt, nhôm, đồng, kẽm, giấy báo, rác sân vườn, đồ đạc đã sử dụng, bì nhựa, rác sinh hoạt và toàn bộ những gì mà con người loại ra môi trường được thể hiện qua Hình 2.1: Chất thải rắn Theo Thông tư 08/2017/TT-BXD [10], “chất thải rắn xây dựng là chất thải rắn phát sinh trong quá trình khảo sát, thi công xây dựng công trình (bao gồm công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi, phá dỡ)”.
Theo thông tư 08/2017/TT-BXD [10], hoạt động quản lý chất thải rắn xây dựng là các hoạt động kiểm soát chất thải rắn xây dựng trong suốt quá trình từ phát sinh, phân loại đến thu gom, vận chuyển, lưu giữ tạm thời, tái chế, xử lý hoặc tái sử dụng nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khỏe con người. Theo Nghị định 38/2015/NĐ-CP [11] về quản lý chất thải và phế liệu (điều 50), CTRXD là chất thải rắn từ hoạt động xây dựng (kể cả cải tạo, phá dỡ công trình, gọi chung là CTRXD) và phải được phân loại và quản lý như sau: a) Đất, bùn thải từ hoạt động đào đất, nạo vét lớp đất mặt, đào cọc móng được sử dụng để bồi đắp cho đất trồng cây hoặc các khu vực đất phù hợp được thể hiện qua Hình 2. Luận văn thạc sĩ HVTH: Đặng Quốc Bảo - 2070532 11 Hình 2.2: Bùn trong quá trình thi công móng b) Đất đá, chất thải rắn từ CM (gạch, ngói, vữa, bê tông, vật liệu kết dính quá hạn sử dụng) được tái chế làm CM hoặc tái sử dụng làm vật liệu san lấp cho các công trình xây dựng hoặc chôn lấp trong bãi chôn lấp chất thải rắn xây dựng được thể hiện qua Hình 2.3: Chất thải vật liệu trong quá trình đập phá c) Chất thải rắn có khả năng tái chế như thủy tinh, sắt thép, gỗ, giấy, chất dẻo được tái chế, tái sử dụng được thể hiện qua Hình 2. Luận văn thạc sĩ HVTH: Đặng Quốc Bảo - 2070532 12 Hình 2.4: Chất thải từ kính cường lực d) Chất thải nguy hại được phân loại riêng và quản lý theo quy định tại Nghị định số 38/2015/NĐ-CP [11] và các văn bản pháp luật hướng dẫn về quản lý chất thải nguy hại.
Chất thải xây dựng là chất thải được tạo ra từ các hoạt động khác nhau như giải phóng mặt bằng và xây dựng các công trình hoặc cơ sở hạ tầng mới [12]. Chất thải xây dựng và phá dỡ là chất thải được tạo ra trong quá trình xây dựng mới, cải tạo và phá dỡ các tòa nhà và công trình kiến trúc [13]. Chất thải rắn xây dựng hay còn gọi là phế thải xây dựng, được định nghĩa là chất thải rắn phát sinh trong quá trình khảo sát, chuẩn bị mặt bằng, thi công xây dựng công trình (bao gồm công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi, phá dỡ). Thành phần và tính chất các loại chất thải này phụ thuộc vào hoạt động xây dựng được thực hiện, có thể phân theo các nhóm của từng giai đoạn xây dựng được thể hiện trong Hình 2.
Luận văn thạc sĩ HVTH: Đặng Quốc Bảo - 2070532 13 Hình 2.5: Phân nhóm chất thải xây dựng trong từng giai đoạn [14] Tại Hy Lạp, quá trình tạo ra CDW được thể hiện qua Bảng 2.1: Phân loại chất thải CDW tại Hy Lạp [12] Những vật liệu trong quá trình Loại này bao gồm đất đào, cát, sỏi, đá, đất sét và tất cả đào đất, khai quật những vật liệu có nguồn gốc từ các cuộc khai quật. Quy hoạch xây Những vật liệu này có thể là nhựa đường và tất cả các vật dựng và sữa chữa liệu mặt đường như cát, sỏi, kim loại và vật liệu từ việc tháo đường bộ dỡ và cải tạo đường. Mãnh vụn từ Những vật liệu này bao gồm đất, sỏi, mảnh bê tông, vôi đúc, những vật liệu gạch, tấm phủ, thạch cao, cát, đá mài, sứ, v. quá dỡ Những vật liệu này bao gồm gỗ, nhựa, giấy, thủy tinh, kim Những phế thải loại, dây điện, bột màu, men, vỏ bọc, keo dán và tất cả ngoài công trình những vật liệu này từ hoạt động xây dựng, sửa chữa, chống đỡ, bồi đắp, mở rộng hoặc cải tạo công trường.
Luận văn thạc sĩ HVTH: Đặng Quốc Bảo - 2070532 14 2.Chất thải xây dựng và phá dỡ (CDW) Chất thải xây dựng và phá dỡ, được định nghĩa là sản phẩm, vật liệu thừa, hư hỏng phát sinh từ hoạt động xây dựng, cải tạo, phá dỡ và các hoạt động xây dựng khác[15]. Chất thải xây dựng và phá dỡ là một trong những chất thải lớn nhất dòng chất thải trên thế giới. Một số nghiên cứu điều tra rằng CDW đã đạt tới 30–40% tổng lượng chất thải rắn do các hoạt động xây dựng và phá dỡ quy mô lớn [16]. Phân nhóm nguồn gốc gây ra CDW được xác định ở Bảng 2.2: Phân nhóm yếu tố gây ra CDW [16] Nhóm Yếu tố gây ra • Lỗi trong tài liệu hợp đồng • Thiết kế lỗi chi tiết và phức tạp Thiết kế và các tài liệu hợp đồng • Thường xuyên thay đổi thiết kế • Lựa chọn các vật liệu tiêu chuẩn thấp • Lỗi của nhà cung cấp và/hoặc vận chuyển Quy trình thu mua • Lỗi đặt hàng • Vượt quá mức sai lệch cho phép hàng hóa • Hư hỏng trong quá trình vận chuyển Xử lý và bảo quản (ngoài công trường và trên công trường) • Người công nhân thiếu hiểu biết và mắc sai lầm vật liệu không sử dụng / Quản lý và giám sát ngoài công trường còn sót lại • Sự khan hiếm và hỏng hóc của thiết bị • Điều kiện thời tiết Bên ngoài • Trộm cắp hoặc phá hoại Còn lại • Chất thải từ các bao bì vật liệu Luận văn thạc sĩ HVTH: Đặng Quốc Bảo - 2070532 15 Vòng đời tái chế những loại chất thải khác nhau từ quá trình thải xây dựng và phá dỡ công trình được thể hiện qua Hình 2.
Hình thành chất thải xây dựng và phá dỡ (CDW) Công trình xây dựng Công trình phá dỡ Kim loại, gỗ, Đất và các mảnh nhựa, thủy tinh hỗn hợp (xà bần) Bao bì, rác… Bê tông, vữa, gạch Tái chế và tái sử dụng Bải rác Những công ty Sản phẩm tái thu gôm chế Chôn lấp trái phép ngoài Tái sử dụng trên Cốt liệu tái chế công trường công trường Cơ sở tái chế Sản phẩm bê trong nhà máy tông, vữa Hình 2.6: Vòng đời tái chế CDW [16] Luận văn thạc sĩ HVTH: Đặng Quốc Bảo - 2070532 16 2.Quản lý chất thải rắn xây dựng Theo Thông Tư 08/2017/TT-BXD [10], quản lý chất thải rắn xây dựng phải tuân thủ 05 nguyên tắc sau: “1- Quản lý chất thải rắn xây dựng phải tuân thủ các nguyên tắc chung về quản lý chất thải có liên quan quy định tại Điều 4 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP [11]”. “2- Khi thiết kế công trình, phải có giải pháp thiết kế và công nghệ, lựa chọn sử dụng vật liệu hợp lý nhằm hạn chế tối đa lượng chất thải phát sinh”. “3- Vị trí, quy mô các điểm tập kết, trạm trung chuyển và cơ sở xử lý chất thải rắn xây dựng phải phù hợp với quy hoạch xây dựng, quy hoạch quản lý chất thải rắn”. “4- Dự án đầu tư xây dựng các cơ sở xử lý chất thải rắn xây dựng được hưởng ưu đãi theo các quy định về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường, sản xuất vật liệu xây dựng và các ưu đãi khác theo quy định hiện hành”.
“5- Khuyến khích cộng đồng dân cư tham gia giám sát việc thực hiện các quy định quản lý CTRXD trên địa bàn”. Theo thông tư số 08/2017/TT-BXD [10], công nghệ xử lý chất thải rắn xây dựng được thể hiện qua Hình 2. 1-Nghiền, 2- Sản xuất vật liệu xây sàng dựng 4- Công nghệ khác 3- Chôn lấp Hình 2.7: Công nghệ xử lý chất thải rắn xây dựng [14] Luận văn thạc sĩ HVTH: Đặng Quốc Bảo - 2070532 17 2.Tổng quan về lý thuyết Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước và nước ngoài tập trung vào đánh giá tình hình chất thải xây dựng, các giải pháp chiến lược về quản lý chất thải xây dựng, xem Bảng 2. Tuy nhiên, các nghiên cứu còn hạn chế về việc đưa ra các giải pháp chung, chưa cụ thể theo tình hình về chất thải xây dựng hiện tại ở Thành phố Hồ Chí Minh.Nghiên cứu trong nước Bảng 2.3: Tổng quan các nghiên cứu trong nước về quản lý CTXD TÊN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN STT TÁC GIẢ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ TÀI CỨU 1 Nguyễn Minh Đánh giá Nghiên cứu và đánh giá tình - Phương pháp kế thừa.