Quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam

Chuyên khảo luật học phân tích Quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở việt nam, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2022

190
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Đóng góp mới về khoa học của Luận án

1.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

1.7. Kết cấu của Luận án

2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

2.1. Khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

2.2. Tình hình nghiên cứu lý luận về quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội

2.3. Tình hình nghiên cứu về thực trạng quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam

2.4. Tình hình nghiên cứu về hoàn thiện quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả thực thi

2.5. Đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án

2.6. Những kết quả nghiên cứu Luận án kế thừa và tiếp tục phát triển

2.7. Những vấn đề chưa giải quyết thấu đáo trong các công trình khoa học đã công bố

2.8. Những vấn đề Luận án cần tiếp tục nghiên cứu

3. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRONG PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI

3.1. Khái niệm và đặc điểm người khuyết tật

3.1.1. Khái niệm người khuyết tật

3.1.2. Đặc điểm của người khuyết tật

3.2. Khái niệm và nội dung quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội

3.2.1. Khái niệm quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội

3.2.2. Nội dung quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội

3.3. Biện pháp bảo đảm quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội

3.3.1. Biện pháp xã hội

3.3.2. Biện pháp kinh tế

3.3.3. Biện pháp pháp lý

4. THỰC TRẠNG QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRONG PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

4.1. Thực trạng quyền của người khuyết tật được ghi nhận trong pháp luật an sinh xã hội Việt Nam

4.1.1. Quyền được bảo vệ thu nhập

4.1.2. Quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ

4.1.3. Quyền được trợ giúp xã hội

4.1.4. Quyền bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

4.2. Thực trạng quyền của người khuyết tật được bảo đảm thực hiện trong pháp luật an sinh xã hội Việt Nam

4.2.1. Biện pháp xã hội

4.2.2. Biện pháp kinh tế

4.2.3. Biện pháp pháp lý

4.3. Thực thi quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam

4.3.1. Kết quả đạt được

4.3.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

5. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRONG PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI

5.1. Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi

5.2. Kiến nghị hoàn thiện quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam

5.2.1. Kiến nghị hoàn thiện về ghi nhận quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam

5.2.2. Kiến nghị hoàn thiện về bảo đảm quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam

5.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội

Quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam đã được ghi nhận và bảo vệ qua nhiều văn bản pháp luật. Điều này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với nhóm người dễ bị tổn thương này. Tuy nhiên, việc thực thi quyền lợi của họ vẫn còn nhiều thách thức. Cần có những biện pháp cụ thể để đảm bảo quyền lợi của người khuyết tật được thực hiện đầy đủ và hiệu quả.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của người khuyết tật

Người khuyết tật được định nghĩa là những người có khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần, dẫn đến hạn chế trong việc tham gia vào các hoạt động xã hội. Đặc điểm của họ thường bao gồm sự khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và việc làm.

1.2. Tình hình pháp luật an sinh xã hội liên quan đến người khuyết tật

Pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam đã có những quy định cụ thể về quyền lợi của người khuyết tật. Tuy nhiên, việc thực thi các quy định này vẫn gặp nhiều khó khăn, từ nhận thức đến cơ sở vật chất.

II. Vấn đề và thách thức trong việc thực thi quyền của người khuyết tật

Mặc dù có nhiều quy định pháp luật bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật, nhưng thực tế cho thấy họ vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản. Những thách thức này không chỉ đến từ hệ thống pháp luật mà còn từ xã hội và cộng đồng.

2.1. Rào cản xã hội đối với người khuyết tật

Thái độ kỳ thị và phân biệt đối xử vẫn tồn tại trong xã hội, khiến người khuyết tật gặp khó khăn trong việc hòa nhập. Điều này ảnh hưởng lớn đến tâm lý và khả năng tham gia của họ vào các hoạt động xã hội.

2.2. Thiếu hụt nguồn lực và chính sách hỗ trợ

Nhiều chính sách hỗ trợ cho người khuyết tật chưa được triển khai hiệu quả do thiếu nguồn lực tài chính và nhân lực. Điều này dẫn đến việc quyền lợi của họ không được đảm bảo đầy đủ.

III. Phương pháp và giải pháp nâng cao quyền lợi cho người khuyết tật

Để cải thiện tình hình quyền lợi của người khuyết tật, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc nâng cao nhận thức cộng đồng và cải thiện chính sách là rất quan trọng.

3.1. Tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức

Giáo dục cộng đồng về quyền của người khuyết tật là cần thiết để giảm thiểu kỳ thị. Các chương trình giáo dục nên được triển khai rộng rãi để nâng cao nhận thức và sự đồng cảm.

3.2. Cải thiện chính sách và pháp luật

Cần rà soát và hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến quyền của người khuyết tật. Việc này sẽ giúp đảm bảo quyền lợi của họ được thực thi một cách hiệu quả hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quyền của người khuyết tật

Nghiên cứu về quyền của người khuyết tật đã chỉ ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Các kết quả nghiên cứu này có thể được áp dụng để cải thiện chính sách và thực tiễn trong việc bảo vệ quyền lợi của họ.

4.1. Kết quả đạt được trong việc thực thi quyền lợi

Một số kết quả tích cực đã được ghi nhận trong việc thực thi quyền lợi của người khuyết tật, như việc tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục.

4.2. Những tồn tại và hạn chế trong thực tiễn

Mặc dù có những tiến bộ, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong việc thực thi quyền lợi của người khuyết tật. Cần có những biện pháp cụ thể để khắc phục những vấn đề này.

V. Kết luận và tương lai của quyền của người khuyết tật ở Việt Nam

Quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam đang dần được cải thiện. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi của họ được thực thi đầy đủ, cần có sự nỗ lực từ cả cộng đồng và Nhà nước.

5.1. Tương lai của quyền lợi người khuyết tật

Tương lai của quyền lợi người khuyết tật phụ thuộc vào sự thay đổi trong nhận thức xã hội và sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Cần có những chính sách cụ thể để đảm bảo quyền lợi của họ.

5.2. Đề xuất giải pháp cho tương lai

Cần có những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả thực thi quyền lợi của người khuyết tật, bao gồm việc cải thiện chính sách, tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng.

02/07/2025
Quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Tình hình nghiên cứu lý luận về quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội Thứ nhất, khái niệm và đặc điểm người khuyết tật. Khái niệm và đặc điểm NKT được đề cập trong một số công trình nghiên cứu với góc độ tiếp cận, phạm vi tiếp cận khác nhau.

Một số công trình đã đưa ra khái niệm và đặc điểm của người khuyết tật bao gồm: Giáo trình “Luật người khuyết tật Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2011, tr. 21 đưa ra khái niệm NKT như sau: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến nhiều hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với các chủ thể khác”. Các tác giả đã phân tích đặc điểm NKT dưới 2 góc độ là góc độ kinh tế - xã hội và góc độ dạng tật. Dưới góc độ kinh tế, NKT là nhóm cư dân đặc biệt phải chịu thiệt thòi về kinh tế - xã hội và nhân khẩu học.

Dưới góc độ dạng tật và mức độ khuyết tật thì NKT gồm NKT vận động; NKT nghe nói; NKT nhìn; NKT thần kinh, tâm thần; NKT trí tuệ và NKT khác. Mỗi dạng khuyết tật có đặc điểm riêng, chung về tâm, sinh lí, khả năng. Tác giả Nguyễn Thị Báo đã đưa ra khái niệm NKT trong Luận án tiến sỹ luật học “Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay”, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2008, tr. 24 và cuốn sách chuyên khảo “Pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam”, NXB Tư pháp, năm 2011, tr.

Theo tác giả Nguyễn Thị Báo thì“Người khuyết tật là những người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc có những rối loạn về sinh lý, tâm lý hay một chức năng nào đó của con người, không phân biệt nguồn gốc gây ra, dẫn đến hạn chế một phần hoặc mất khả năng lao động và gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt, học tập, hoà nhập cộng đồng”. Tác giả Nguyễn Thị Báo nghiên cứu đặc điểm NKT dưới hai góc độ sinh học và xã hội. Về mặt sinh học, NKT là những người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể, hoặc có những rối loạn về sinh lý, tâm lý hay một chức năng nào đó của con người do nhiều nguyên nhân khác nhau. Về mặt xã hội, NKT là những người tổn thương nhất trong nhóm dễ bị tổn thương, là người yếu thế trong xã hội do bị khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần.

Có thể thấy, cả hai công trình trên đều có điểm chung là tiếp cận khái niệm NKT dưới góc độ y tế nhưng có tính đến yếu tố xã hội, NKT là người có những 8 khiếm khuyết cơ thể hoặc suy giảm chức năng, từ đó dẫn đến họ gặp những khó khăn khi tham gia các hoạt động xã hội. Một số công trình nghiên cứu khác lại phân tích, bình luận để làm rõ khái niệm NKT trong văn bản pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về NKT, bao gồm: Bài viết “Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật và sự tiếp nhận trong pháp luật Việt Nam” của tác giả Đinh Thị Cẩm Hà đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 7/2015, tr. 9-13, tác giả đánh giá việc sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật” trong Luật Người khuyết tật năm 2010 đã tương thích với Công ước Quốc tế về quyền NKT năm 2010. Tác giả Nguyễn Thị Thuận không đưa ra khái niệm NKT mà chỉ giải thích làm rõ khái niệm NKT đã được ghi nhận trong Công ước Quốc tế về quyền của NKT trong bài viết “Người khuyết tật trong Luật Quốc tế - Những vấn đề pháp lý hiện đại” đăng trên tạp chí Luật học số đặc san pháp luật NKT năm 2013, tr.

Trong bài viết “The Definition of Disability in German and Foreign Discrimination Law”4, tác giả Theresia Degener đã xem xét các định nghĩa của Đức về khuyết tật trong Đạo luật Bình đẳng về Người khuyết tật (BGG) năm 2002 và Luật phục hồi mới của Bộ Luật xã hội năm 2001, Quyển số Chín (SGB IX) không phù hợp với tiêu chuẩn xã hội/nhân quyền. Tác giả cũng so sánh định nghĩa khuyết tật trong pháp luật Đức với pháp luật Thuỵ Sỹ, Áo, Hoa Kỳ, NewZealand và Ireland thì thấy rằng pháp luật Đức có phần tụt hậu trong quá trình hướng đến cách tiếp cận toàn diện hơn để xác định NKT trong bối cảnh luật phân biệt đối xử. Trong cuốn sách “Understanding the UN Convention on the rights of persons with disabilities” (xuất bản bởi Handicap International, tái bản vào tháng 7 năm 2010, tác giả Marianne Schulze đã giải thích các quy định trong Công ước quốc tế về quyền của NKT đặt trong mối quan hệ với các Công ước quốc tế khác về quyền con người của Liên hợp quốc. Theo tác giả thì điểm e trong Lời nói đầu của CRPD không đóng khung định nghĩa NKT mà chỉ mô tả về NKT.

Sự không định nghĩa này bao hàm mô hình xã hội, thừa nhận sự phân biệt đối xử. Lý do chính dẫn đến vô hiệu hoá quyền của NKT là do các rào cản thuộc nhiều loại khác nhau bao gồm môi trường xây dựng, các yếu tố xã hội, khuôn mẫu, định kiến và các hình thức bảo trợ. Trong cuốn sổ tay “From Exclusion to equality: Realizing the rights of persons with disabilities” (do Vụ Kinh tế và Xã hội (UN-DESA), Giám đốc Cao uỷ 4 Đăng trên Tạp chí Disability Studies Quarterly (Tạp chí Nghiên cứu Khuyết tật hàng quý - DSQ) của Hiệp hội Nghiên cứu Khuyết tật (SDS), tập 26 số 2 năm 2006 (https://dsq-sds.org/article/view/696/873). 9 viên Nhân quyền Liên hợp quốc (OHCHR) và Liên minh Nghị viện (IPU) cùng biên soạn) đã hướng dẫn nâng cao nhận thức về CRPD và các điều khoản của nó, cũng như cơ chế, khuôn khổ cần thiết để chuyển Công ước vào thực tiễn.

Về định nghĩa khuyết tật trong CRPD, các tác giả cũng khẳng định trong Công ước không định nghĩa rõ ràng về khuyết tật cũng như thuật ngữ người khuyết tật. Công ước chỉ ra, thay vì định nghĩa, ai là người khuyết tật. Người khuyết tật “bao gồm” những người bị suy giảm lâu dài về thể chất, tinh thần, trí tuệ hoặc giác quan; nói cách khác, Công ước bảo vệ ít nhất những cá nhân đó. Ngụ ý trong chỉ dẫn này là sự hiểu biết rằng các Quốc gia có thể mở rộng phạm vi những người được bảo vệ để bao gồm, ví dụ, những người bị khuyết tật ngắn hạn.

Cách tiếp cận của Công ước đối với NKT nhấn mạnh tác động đáng kể mà các rào cản về cơ sở và môi trường xã hội đối với việc thụ hưởng các quyền con người của NKT. Trong những công trình này mặc dù tác giả không đưa ra định nghĩa NKT nhưng thông qua phân tích định nghĩa NKT trong Luật NKT Việt Nam và trong CRPD thì thấy rằng các tác giả đều đồng tình với cách tiếp cận của CRPD rằng những rào cản về môi trường xã hội, định kiến xã hội là nguyên nhân ảnh hưởng đến việc NKT tiếp cận quyền. Thứ hai, khái niệm quyền của người khuyết tật và quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội. Sách chuyên khảo “Pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Báo, Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2011, tr.

48 đã đưa ra khái niệm và đặc điểm quyền của NKT. Theo tác giả thì “Quyền của người khuyết tật bao gồm các quyền tự do cơ bản của con người, là phẩm giá, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có ở con người – với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại và được chăm sóc, bảo vệ đặc biệt, với tư cách là nhóm đặc thù dễ bị tổn thương bởi sự khuyết tật, được thừa nhận và bảo hộ bằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia”. Tác giả xác định, quyền của NKT có đặc điểm chung với quyền con người và đặc điểm riêng. Đặc điểm chung gồm 3 đặc điểm: Một là, NKT có các quyền cơ bản của con người nên quyền NKT bao hàm tất cả những đặc điểm cơ bản của quyền con người như tính vốn có, tính phổ biến, tính đặc thù, tính không thể chuyển nhượng, tính không thể chia cắt và phụ thuộc lẫn nhau.

Hai là, quyền của NKT ít có điều kiện để thực hiện đầy đủ và dễ bị lạm dụng. Ba là, một số quyền của NKT được hưởng ưu tiên theo luật định. Đặc điểm riêng bao gồm: Một là, NKT tâm thần nặng, người thiểu năng trí tuệ có các quyền dân sự, chính trị không đầy đủ, 10 và có một số quyền kinh tế, xã hội văn hoá đặc thù; hai là, một số quyền của NKT cần được ưu tiên theo luật định. Như vậy, tác giả Nguyễn Thị Báo đã làm rõ khái niệm và đặc điểm quyền của NKT.

Đối với khái niệm và đặc điểm quyền của NKT trong pháp luật an sinh xã hội thì cho đến nay chưa có công trình khoa học nào đề cập đến. Thứ ba, nội dung quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội. Cho đến thời điểm hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào xác định và làm rõ nội dung quyền của người khuyết tật trong pháp luật ASXH. Một số công trình nghiên cứu đề cập đến quyền ASXH của NKT hoặc quyền con người trong pháp luật ASXH.

Những công trình này cũng được xác định là nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho luận án. Bài viết “Quyền con người trong pháp luật an sinh xã hội” của tác giả Nguyễn Hữu Chí (đăng trong cuốn sách “Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành học (tập II)” chủ biên Võ Khánh Vinh chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã làm rõ khái niệm ASXH trong Công ước 102 “Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn lao động” của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Tác giả nêu và phân tích 9 nhánh của ASXH theo quy định của Công ước 102 gồm: Chăm sóc y tế; trợ cấp ốm đau; trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già (hưu bổng); trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ cấp gia đình (phụ cấp gia đình); trợ cấp thai sản; trợ cấp tàn tật và trợ cấp tiền tuất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quyền lợi và chính sách bảo vệ người khuyết tật trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội tại Việt Nam. Tài liệu nêu rõ những quy định pháp lý hiện hành, các chương trình hỗ trợ và những thách thức mà người khuyết tật phải đối mặt trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội. Đặc biệt, nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức cộng đồng và cải thiện chính sách để đảm bảo quyền lợi cho nhóm đối tượng này.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chính sách xã hội liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách xã hội đối với thương bệnh binh ở huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội hiện nay: Thực trạng và giải pháp", nơi đề cập đến các chính sách hỗ trợ cho những người gặp khó khăn do thương tật. Ngoài ra, tài liệu "Tổ chức thực thi chính sách đối với người học nghề là lao động nông thôn của chính quyền huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An" cũng mang lại cái nhìn về chính sách hỗ trợ cho nhóm lao động nông thôn, có thể liên quan đến người khuyết tật trong bối cảnh việc làm. Cuối cùng, tài liệu "Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý" có thể cung cấp thêm thông tin về quyền lợi và bảo vệ tài sản trí tuệ, một khía cạnh quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của mọi cá nhân, bao gồm cả người khuyết tật.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn hiểu rõ hơn về quyền lợi của người khuyết tật mà còn mở ra nhiều khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực chính sách xã hội tại Việt Nam.