Tổng quan nghiên cứu

Quế Phong là huyện miền núi cao biên giới của tỉnh Nghệ An với 73,31 km đường biên tiếp giáp nước bạn Lào, đồng thời là một trong 62 huyện nghèo nhất cả nước theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ. Số liệu thống kê năm 2016 cho thấy toàn huyện có 43.063 người trong độ tuổi lao động, trong đó lao động nông thôn chiếm tới 87,04% (tương đương 37.485 người). Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 55,90% năm 2011 xuống 45,95% năm 2016 và thu nhập bình quân đầu người tăng từ 10,38 triệu đồng lên 20,28 triệu đồng/năm, song trình độ lao động vẫn là điểm nghẽn phát triển lớn khi tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 22%.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết những bất cập trong tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ tại địa bàn đặc thù có 95% đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Thực tiễn cho thấy các lớp học nghề còn mang tính mùa vụ, chưa gắn kết với doanh nghiệp, cơ sở vật chất hạn chế và 100% kinh phí phụ thuộc vào ngân sách Trung ương.

Mục tiêu nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổ chức thực thi chính sách cấp huyện, phân tích toàn diện thực trạng giai đoạn 2011-2016 tại Quế Phong, nhận diện rõ điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân cốt lõi. Từ đó, đề tài xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2020 nhằm nâng tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo lên trên 25%, giải quyết việc làm ổn định cho hơn 1.600 lao động mỗi năm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết chu trình chính sách công kết hợp Lý thuyết quản trị hành chính công địa phương và Lý thuyết phát triển nguồn nhân lực nông thôn. Khung phân tích tiến trình thực thi chính sách của chính quyền cấp huyện được cấu trúc thành 3 giai đoạn liên hoàn: chuẩn bị triển khai chính sách, chỉ đạo triển khai chính sách và kiểm tra sự thực hiện chính sách.

Khung nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm nền tảng:

  • Chính sách đối với người học nghề là lao động nông thôn: Hệ thống mục tiêu, giải pháp và nguồn lực của Nhà nước nhằm hỗ trợ chi phí, định hướng nghề nghiệp và tạo việc làm sau đào tạo.
  • Tổ chức thực thi chính sách cấp huyện: Toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân và các phòng ban chuyên môn nhằm hiện thực hóa các quy định pháp luật vào đời sống địa phương.
  • Nguồn nhân lực nông thôn miền núi: Lực lượng lao động sinh sống tại địa bàn khó khăn, có đặc thù về tập quán canh tác truyền thống và trình độ học vấn không đồng đều.
  • Chuyển dịch cơ cấu lao động: Quá trình chuyển dịch tỷ trọng việc làm từ sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp sang nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ.

Các quy chuẩn tài chính được áp dụng theo Quyết định 1956/QĐ-TTg gồm định mức hỗ trợ chi phí học nghề tối đa 3 triệu đồng/người/khóa cho hộ nghèo và người dân tộc thiểu số, hỗ trợ tiền ăn 15.000 đồng/ngày thực học, trợ cấp đi lại 200.000 đồng/khóa và hỗ trợ 100% lãi suất vay vốn tạo việc làm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2011-2016 của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Quế Phong và số liệu thống kê tại 13 xã, 01 thị trấn. Dữ liệu sơ cấp được thu thập vào tháng 7 năm 2017 qua 120 phiếu điều tra lao động nông thôn và phỏng vấn sâu 8 cán bộ chủ chốt thuộc Thường trực HĐND, lãnh đạo UBND huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng Giám đốc Trung tâm Hướng nghiệp - Dạy nghề huyện.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện được lựa chọn để đảm bảo tính đại diện cho các cụm xã vùng cao, vùng biên giới và vùng trung tâm. Phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp so sánh chuỗi thời gian được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc lượng hóa sự biến động của tỷ lệ lao động qua đào tạo (từ 9,47% năm 2011 lên 22% năm 2016) và đánh giá chính xác mức độ phân bổ nguồn lực công.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo có sự tăng trưởng liên tục nhưng chưa tạo được đột phá lớn. Trong giai đoạn 2011-2016, tỷ lệ lao động được đào tạo nghề tăng từ 9,47% lên 22,00%, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho 1.654 lao động. Tuy nhiên, số lao động nông nghiệp chiếm tới 30.686 người trên tổng số 37.485 lao động nông thôn, thể hiện cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm.

Thứ hai, công tác chuẩn bị triển khai chính sách bộc lộ nhiều điểm nghẽn thể chế nghiêm trọng. Quyết định 1956/QĐ-TTg có hiệu lực từ cuối năm 2009 nhưng phải đến năm 2013 UBND huyện mới ban hành Quyết định thành lập Ban chỉ đạo cấp huyện (chậm 4 năm). Đội ngũ tham mưu tại Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thiếu biên chế chuyên trách, phải bố trí công chức kế toán kiêm nhiệm. Suốt giai đoạn 2011-2016 chỉ tổ chức được 5 cuộc tập huấn, riêng hai năm 2015 và 2016 không tổ chức bất kỳ lớp tập huấn nào cho cán bộ cơ sở.

Thứ ba, công tác truyền thông và vận hành nguồn lực tài chính bị động. Toàn huyện chỉ có 3/14 xã duy trì được hệ thống loa truyền thanh hoạt động (chiếm 21,4%), 11 xã còn lại bị hư hỏng hoàn toàn khiến tài liệu băng đĩa tuyên truyền không phát huy tác dụng. Đáng chú ý, 100% nguồn kinh phí đào tạo nghề của huyện phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách Trung ương, ngân sách tỉnh và huyện không cân đối được nguồn đối ứng và nguồn vốn xã hội hóa đạt 0 đồng.

Thứ tư, hiệu quả gắn kết đào tạo với thị trường và doanh nghiệp rất hạn chế. Toàn huyện có 168 trang trại nhưng chỉ có 8 trang trại đạt chuẩn theo Thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT (chiếm 4,76%), cùng 678 gia trại quy mô nhỏ lẻ. Đào tạo nghề chưa gắn với chuỗi giá trị hàng hóa nông sản, dẫn đến tình trạng lao động sau học nghề chỉ áp dụng vào công việc thời vụ tại gia đình.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những tồn tại trên xuất phát từ rào cản nhận thức của người dân, tư tưởng trông chờ, ỷ lại chính sách trợ cấp của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số và sự vào cuộc thiếu quyết liệt của cấp ủy, chính quyền cơ sở. Hoạt động của Ban chỉ đạo huyện còn mang tính hình thức, đùn đẩy trách nhiệm cho cơ quan thường trực.

So sánh với các nghiên cứu tại địa bàn miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, Quế Phong có nét tương đồng về tỷ lệ hộ nghèo cao và địa hình chia cắt phức tạp. Tuy nhiên, huyện gặp khó khăn riêng biệt khi tỷ lệ che phủ rừng lên tới 75,6% (145.032 ha đất có rừng) và diễn biến tệ nạn xã hội phức tạp, gây trở ngại lớn cho việc định hình mô hình kinh tế tập trung.

Các phát hiện thực chứng trên có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ đường thể hiện đà tăng trưởng lao động qua đào tạo từ 9,47% lên 22%, kết hợp biểu đồ cơ cấu ngân sách (100% ngân sách Trung ương) và bảng thống kê thực trạng hư hỏng trang thiết bị truyền thanh tại 14 xã, thị trấn nhằm cung cấp góc nhìn trực quan cho các nhà quản lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn bộ máy tổ chức và chuẩn hóa nhân sự thực thi. UBND huyện Quế Phong cần phân bổ ngay 01 biên chế công chức chuyên trách lĩnh vực dạy nghề tại Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội trước quý 2 năm 2018. Định kỳ hàng năm tổ chức tối thiểu 02 khóa tập huấn chuyên sâu về khảo sát nhu cầu thị trường và kỹ năng tuyên truyền cho 100% cán bộ phụ trách lao động - việc làm tại 14 xã, thị trấn do Phòng Nội vụ phối hợp Phòng LĐTB&XH thực hiện.

Thứ hai, hiện đại hóa phương thức truyền thông và khôi phục hạ tầng thông tin. UBND huyện chỉ đạo Phòng Văn hóa - Thông tin bố trí kinh phí sửa chữa dứt điểm hệ thống loa truyền thanh tại 11 xã bị hư hỏng trong năm 2018-2019. Phân công các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên lồng ghép nội dung tư vấn học nghề vào 100% buổi sinh hoạt chi hội, xóm bản nhằm xóa bỏ tâm lý trông chờ ỷ lại của người dân.

Thứ ba, đa dạng hóa nguồn lực tài chính và phát triển chuỗi giá trị việc làm. Phòng Tài chính - Kế hoạch tham mưu trích tối thiểu 5% đến 10% ngân sách địa phương hàng năm để đối ứng chương trình đào tạo nghề. Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện đẩy mạnh giải ngân nguồn vốn vay ưu đãi tự tạo việc làm cho 100% lao động hoàn thành khóa học. Phòng Nông nghiệp & PTNT chủ trì liên kết 168 trang trại và các doanh nghiệp chế biến để bao tiêu sản phẩm chủ lực như chanh leo, vịt bầu Quỳ, lúa Japonica và cây dược liệu đến năm 2020.

Thứ tư, đổi mới cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá chính sách. Thường trực HĐND huyện và Ban chỉ đạo huyện định kỳ tổ chức 02 đợt giám sát thực tế mỗi năm tại các cơ sở đào tạo và Ủy ban nhân dân cấp xã. Chuyển trọng tâm đánh giá từ số lượng học viên sang tỷ lệ lao động có việc làm và thu nhập tăng thêm sau 6 tháng tốt nghiệp, kiên quyết xử lý các đơn vị lập danh sách đào tạo mang tính hình thức.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1 - Cán bộ quản lý nhà nước và cơ quan hoạch định chính sách cấp huyện, tỉnh: Nắm vững quy trình tổ chức thực thi chính sách 3 giai đoạn để ứng dụng trực tiếp vào việc lập kế hoạch, phân bổ dự toán ngân sách và nâng cao năng lực bộ máy quản trị công tại 62 huyện nghèo trên cả nước.

Nhóm 2 - Ban Giám đốc các Trung tâm GDNN - GDTX và cơ sở đào tạo nghề: Khai thác căn cứ thực tiễn để đổi mới danh mục ngành nghề, thiết kế chương trình sơ cấp nghề gắn với thế mạnh 155.061 ha đất nông nghiệp và 75,6% diện tích đất lâm nghiệp tại các vùng miền núi.

Nhóm 3 - Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công: Sử dụng khung lý thuyết, bộ câu hỏi khảo sát 120 mẫu thực địa và phương pháp đánh giá thực thi chính sách cấp địa phương làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu học thuật.

Nhóm 4 - Các tổ chức phi chính phủ và hiệp hội phát triển cộng đồng: Khai thác dữ liệu thực tế về 95% đồng bào dân tộc thiểu số và 45,95% hộ nghèo để xây dựng các dự án tài trợ sinh kế, chuyển giao kỹ thuật canh tác và hỗ trợ giảm nghèo bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Điểm đột phá lớn nhất trong công tác đào tạo nghề tại Quế Phong giai đoạn 2011-2016 là gì? Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đã tăng ấn tượng từ 9,47% năm 2011 lên 22,00% năm 2016, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu 20% được phê duyệt. Bình quân mỗi năm huyện tạo việc làm cho 1.654 lao động, từng bước hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa như chanh leo, vịt bầu Quỳ và cây dược liệu.

Tại sao khâu chuẩn bị triển khai chính sách của huyện lại bị đánh giá là điểm yếu nghiêm trọng? UBND huyện ban hành quyết định thành lập Ban chỉ đạo chậm 4 năm so với Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phải bố trí công chức kế toán kiêm nhiệm công tác dạy nghề và trong hai năm 2015-2016 hoàn toàn không tổ chức khóa tập huấn chuyên môn nào cho cán bộ xã.

Nguồn ngân sách thực hiện chính sách đào tạo nghề tại Quế Phong có đặc điểm gì nổi bật? Nguồn lực tài chính của huyện phụ thuộc 100% vào nguồn ngân sách hỗ trợ từ Trung ương theo các chương trình mục tiêu quốc gia. Ngân sách cấp tỉnh và huyện không bố trí được nguồn vốn đối ứng hàng năm, đồng thời địa phương chưa huy động được nguồn đóng góp xã hội hóa từ các doanh nghiệp trên địa bàn.

Các mức hỗ trợ tài chính cụ thể cho lao động nông thôn tham gia học nghề được quy định ra sao? Người có công, hộ nghèo và người dân tộc thiểu số được hỗ trợ tối đa 3 triệu đồng/người/khóa sơ cấp, kèm 15.000 đồng/ngày tiền ăn và 200.000 đồng chi phí đi lại. Lao động thuộc hộ cận nghèo được hỗ trợ tối đa 2,5 triệu đồng, các đối tượng khác nhận tối đa 2 triệu đồng và được hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay học nghề.

Luận văn đề xuất những mô hình kinh tế cụ thể nào để giải quyết việc làm sau đào tạo? Đề tài khuyến nghị khai thác 145.032 ha đất có rừng để phát triển mô hình trồng dược liệu dưới tán rừng, khoanh nuôi khai thác lùng, kết hợp mở rộng chăn nuôi vịt bầu Quỳ, lợn địa phương và trồng lúa Japonica. Đồng thời, liên kết chặt chẽ với 168 trang trại và các hợp tác xã để hình thành chuỗi giá trị tiêu thụ nông sản ổn định.

Kết luận

  • Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo tại huyện Quế Phong tăng trưởng từ 9,47% năm 2011 lên 22,00% năm 2016, hỗ trợ giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 45,95%.
  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh khung phân tích tổ chức thực thi chính sách công cấp huyện qua 3 khâu: chuẩn bị, chỉ đạo triển khai và kiểm tra, giám sát.
  • Làm rõ các tồn tại cốt lõi: ban chỉ đạo thành lập chậm 4 năm, 100% kinh phí phụ thuộc Trung ương, thiếu nhân sự chuyên trách và 11/14 xã hư hỏng hệ thống truyền thanh.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao về biên chế, ngân sách đối ứng 5-10%, phục hồi hạ tầng loa phát thanh và mở rộng chuỗi liên kết 168 trang trại.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng giúp chính quyền địa phương hoàn thiện cơ chế quản trị công và thúc đẩy mục tiêu đào tạo nghề cho 62 huyện nghèo đến năm 2020.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã cung cấp bức tranh thực chứng sâu sắc về những rào cản thể chế ở cấp cơ sở vùng cao biên giới, chuyển hóa các quy định chính sách vĩ mô thành quy trình thực thi cụ thể cho chính quyền cấp huyện.

Theo lộ trình khuyến nghị, huyện Quế Phong cần hoàn tất kiện toàn nhân sự chuyên trách trong năm 2018, khôi phục toàn bộ hạ tầng phát thanh cơ sở năm 2019 và đạt mục tiêu trên 80% lao động có việc làm ổn định sau đào tạo vào năm 2020. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý quan tâm có thể khai thác toàn văn tài liệu để ứng dụng vào công tác thực tiễn và nghiên cứu chính sách công tại địa phương.